Welcome to International Physics Olympiad 2008, Hanoi-Vietnam  
Số lượt truy cập
1331421
    23 Tháng Mười Một 2014 | , Đăng Nhập | SiteMap   Tìm Kiếm
    Bản tin từ xa và tại chức » Diễn đàn giáo dục
GIÁO DỤC SUỐT ĐỜI Ở VIỆT NAM
Con người là vốn quý của xã hội, là một thành tố cấu thành nền kinh tế - văn hóa - chính trị của một quốc gia. Trên thế giới, ngày càng có nhiều các tổ chức giáo dục được thành lập. Một trong những mục đích của các tổ chức này nhằm kêu gọi các nước hãy đầu tư cho nguồn lực kinh tế tri thức bằng một phương tiện giáo dục kinh tế nhưng lại rất có hiệu quả, đó là giáo dục thông qua việc dạy - học suốt đời.


Con người là vốn quý của xã hội, là một thành tố cấu thành nền kinh tế - văn hóa - chính trị của một quốc gia. Trên thế giới, ngày càng có nhiều các tổ chức giáo dục được thành lập. Một trong những mục đích của các tổ chức này nhằm kêu gọi các nước hãy đầu tư cho nguồn lực kinh tế tri thức bằng một phương tiện giáo dục kinh tế nhưng lại rất có hiệu quả, đó là giáo dục thông qua việc dạy - học suốt đời. Vậy quan niệm Học suốt đời cần được hiểu như thế nào và phải làm gì để thực hiện việc học suốt đời? Trong phạm vi bài báo nhỏ này, chúng tôi sẽ phân tích tầm quan trọng, vai trò của việc học suốt đời và đưa ra một số biện pháp góp phần giải quyết bài toán học suốt đời ở Việt Nam.

1. Quan niệm học suốt đời và tầm quan trọng của việc học suốt đời

1.1. Nhìn chung việc học được quan niệm là để hiểu biết (learn to know) và để làm việc (learn to do). Tuy nhiên học thật sự không chỉ để biết và để làm. Trong xã hội đầy biến động ngày nay với xu thế toàn cầu hóa, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin thì learn whatlaern how trở nên hết sức cần thiết nhưng chưa đủ. Làm sao để một người có thể hiểu biết những gì diễn ra xung quanh mình và sử dụng lượng kiến thức thu nhận được để tác động có hiệu quả vào thực tiễn? Cách duy nhất là học và cập nhật kiến thức suốt đời (lifelong learning) để biết, để hiểu, để giao tiếp và nói rộng hơn là để có thể tồn tại (learn to be). Thế giới ngày càng xích lại gần nhau, mỗi cá nhân không chỉ học cho riêng mình mà còn học cho cả cộng đồng, học lẫn nhau và học để chung sống (learn to live togerther). Theo quan điểm kinh tế, học chính là một hình thức đầu tư để phát triển kinh tế và chống lại những hậu quả tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa như nạn thất nghiệp, sự mất cân bằng xã hội và những lo lắng về sự đổi thay mang tính kinh tế - chính trị. Bởi vì con người là nguồn vốn đặc biệt trong quá trình sản xuất. Máy móc chỉ hoạt động ở một mức độ có giới hạn. Nguyên liệu và nhiên liệu có thể cạn kiệt nhưng sức học và sự tìm tòi khám phá của con người là vô hạn. Chính vì vậy, cá nhân học tập không chỉ là để mang lại lợi ích cho chính mình mà còn vì lợi ích của cộng đồng.

1.2. Quan niệm như trên về việc học suốt đời cho phép chúng ta rút ra những nội dung cơ bản của khái niệm học suốt đời trong xã hội đương đại dưới những phương diện sau:

- Học suốt đời đem lại sự tăng trưởng về số lượng tri thức tích lũy được.

- Học suốt đời giúp ghi nhớ, tích trữ thông tin để có thể tái sản xuất khi cần thiết.

- Vừa học vừa làm giúp cho khối lượng tri thức thu nhận được có ý nghĩa thực tiễn, có kỹ năng và phương pháp để vận dụng lý luận vào thực tiễn.

- Nhờ việc học liên tục, người học luôn cập nhật kiến thức mới mẻ, hiện đại, đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững của cộng đồng.

2. “Chân dung” của người học suốt đời trong xã hội hiện đại

2.1. Học tập suốt đời trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân vì mục tiêu cuối cùng của các chính sách, các chương trình hành động quốc gia hay toàn cầu là giúp cho mỗi cá nhân đạt được kiến thức, kỹ năng để có thể hòa nhập với những thay đổi nhanh chóng của hoàn cảnh xã hội. Sự thay đổi quan niệm từ giáo dục suốt đời đến học tập suốt đời là quá trình từng bước đưa người học từ vị trí thụ động trở thành người chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập nhất là đối với người trưởng thành. Trong hoàn cảnh học tập suốt đời đang trở thành nguyên tắc cơ bản của đổi mới giáo dục, hướng đến xây dựng một xã hội học tập ở nhiều quốc gia trên thế giới, có lẽ cũng cần thiết để mỗi cá nhân tự “soi mình” trong chân dung của một người học suốt đời. Người học suốt đời là người luôn cảm thấy hài lòng với chính mình khi được học những điều mới mẻ. Họ luôn thích thú với những kinh nghiệm đúc rút được từ thực tiễn, say sưa với những ý tưởng mới tích lũy được cho dù họ đang làm bất cứ công việc gì. Đối với họ, học tập không phải là một công việc quá đặc biệt mà trở thành một phần trong thói quen hàng ngày. Họ cảm thấy hứng thú khi phải đối diện với những thử thách trong cuộc sống. Điểm dễ nhận thấy là họ ý thức rất rõ những điều mình không biết nhưng không trở nên buồn phiền vì điều đó. Người học suốt đời hiểu rằng, luôn luôn có những điều cần phải học thêm, hiểu biết sâu sắc hơn hoặc học để làm tốt hơn. Vì không e ngại trước cái chưa biết của mình nên họ có thể dễ dàng thừa nhận những sai sót, những hạn chế và sẵn sàng tìm nguyên nhân của những sai sót đó. Chính vì vậy, khi bắt tay vào làm việc, họ có thể sử dụng những kiến thức mới một cách nhanh chóng và tìm thấy được mối liên hệ giữa những kiến thức đã biết và những điều vừa học được. Tự tin vào khả năng của bản thân để học tập và hiểu biết cũng là thái độ quan trọng của người học suốt đời. Người học suốt đời tin rằng mình có thể chiếm lĩnh tri thức, những điều mình muốn biết bằng khát vọng mãnh liệt và luôn theo đuổi phương pháp đúng. Đặc biệt, người học suốt đời cũng tin tưởng rằng thời gian đầu tư cho học tập là khoản đầu tư tốt nhất cho sự phát triển cá nhân và nghề nghiệp trong tương lai. Họ học tập những điều mới mẻ không chỉ cho ngày hôm nay mà còn để chuẩn bị cho tương lai. Vượt lên trên những động cơ về bằng cấp, vị trí xã hội, người học suốt đời nhận thức được tầm quan trọng của việc học tập đối với sự phát triển toàn diện của cá nhân và hơn hết, họ tìm được niềm vui trong học tập. Chính những động cơ “bên trong” này sẽ giúp người học phát triển tối đa những tiềm năng cá nhân. Người học suốt đời biết sử dụng những công cụ khám phá thế giới. Internet, truyền hình, truyền thanh, sách báo, những chương trình đào tạo ngắn hạn, những hội thảo, những khóa học từ xa, việc du lịch khám phá thế giới... đều là trường học của người học suốt đời.

2.2. Để có thể sử dụng tốt những cơ hội học tập, người học suốt đời cần từng bước làm chủ những kỹ năng tư duy như suy nghĩ tích cực, sáng tạo, biết phê phán để có thể đưa ra những quyết định đúng, phát triển và giải quyết vấn đề. Người học suốt đời là người học trong môi trường xã hội nên những kỹ năng như giao tiếp, làm việc tập thể cũng cần được quan tâm rèn luyện. Biết cách sử dụng những kinh nghiệm của bản thân ngày càng được xem là một kỹ năng quan trọng đối với những người học suốt đời. Người học suốt đời cần phải biết hạn chế và loại bỏ những quan niệm hay thói quen học tập gây trở ngại cho sự phê phán và sáng tạo khi tiếp cận giải quyết một vấn đề. Từ đó vốn kinh nghiệm sẽ trở thành một nguồn tài nguyên lành mạnh. Bên cạnh việc sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ, làm chủ ngoại ngữ trở thành một công cụ quan trọng của người học suốt đời. Ngoại ngữ không chỉ giúp người học tiếp cận với tri thức thế giới mà còn để hiểu biết và chấp nhận những nền văn hóa khác. Sự giao lưu văn hóa diễn ra ngày càng đa dạng chỉ có thể trở thành hiện thực khi có được sự hiểu biết lẫn nhau về văn hóa, trong đó ngôn ngữ là một yếu tố quan trọng. Các chính sách xây dựng xã hội học tập suốt đời ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xem việc học thêm tối thiểu một ngoại ngữ là một nội dung quan trọng hàng đầu.

Mặt khác, hiểu biết về chính bản thân mình cũng là những kiến thức không thể thiếu được của một người học suốt đời. Mục đích, nội dung và phương pháp học tập của người học suốt đời căn bản dựa trên những hiểu biết về bản thân người học. Mục đích học tập của từng nội dung hay từng giai đoạn sống cần phù hợp với mục đích và triết lý sống của người học. Sự quan tâm, sở thích, niềm đam mê sẽ giúp người học lựa chọn “học cái gì?”. Hiện nay thế giới có xu hướng phổ biến là trên các website về giáo dục từ xa hay giáo dục nói chung đều có đưa ra những trắc nghiệm tâm lý, nhân cách giúp người học xác định “Tôi là ai?”, “Tôi đang ở đâu và thực sự muốn đi đến đâu”? Những câu hỏi đó rất cần thiết cho người học khi họ bắt đầu một quá trình học tập dù là để theo đuổi một bằng cấp dài hạn hay một chương trình huấn luyện kỹ năng ngắn hạn.

ở một khía cạnh khác, không phải ngẫu nhiên mà những kết quả nghiên cứu mới nhất về bộ não thường được giới thiệu trong các hội nghị về học tập suốt đời trên thế giới. ý thức được rằng, vùng “lãnh thổ” con người ít biết đến nhất chính là khoảng cách từ hai lỗ tai. Chính vì thế, người học suốt đời biết tối ưu hóa khả năng hoạt động của bộ não bằng việc chấp nhận những thử thách trong học tập khi tiếp cận những vấn đề mới mẻ và khó khăn. Bên cạnh đó, người học suốt đời là người biết khai thác và sử dụng hợp lý cơ cấu trí khôn để trong quá trình học tập không chỉ sử dụng phép suy lý mà còn tưởng tượng, sử dụng cảm giác, kể cả trực giác để học tập có hiệu quả.

3. Vấn đề học suốt đời trong sự phát triển bền vững của Việt Nam
3.1. Vai trò của học suốt đời ở Việt Nam

Bất kỳ một xã hội nào, muốn phát triển lâu dài và bền vững cũng cần hướng đến các chính sách khuyến khích việc học suốt đời cho mọi đối tượng trong xã hội. Bởi vì, ở trường học suốt đời (School of Lifelong Learning) người lao động sẽ nhận được nguồn thông tin liên quan đến việc tham gia học tập, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp, tìm kiếm sự hỗ trợ cần thiết từ việc làm đến ổn định việc làm thông qua các trung tâm nghề nghiệp được thiết lập trên toàn quốc. ở Việt Nam điều này lại càng cần thiết. Do ảnh hưởng lâu dài của chiến tranh, Việt Nam hiện nay có hơn 50 triệu người lao động có nhu cầu bồi dưỡng, đào tạo lại, cập nhật kiến thức, học suốt đời. Chỉ có làm được những điều đó, chúng ta mới có thể chuyển đổi cơ cấu nguồn nhân lực từ sản xuất nhỏ sang nền kinh tế công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Bên cạnh đó nội lực nền kinh tế Việt Nam chưa mạnh, kinh tế thế giới còn chi phối đến thị trường trong nước khá rõ nét. Nếu kinh tế của các thị trường trên thế giới suy giảm sẽ ảnh hưởng tức thì đến nền kinh tế Việt Nam. Vì thế, thông qua chế độ học tập suốt đời, Việt Nam sẽ tạo được môi trường học tập văn hóa lành mạnh, có ích cho sự phát triển nội lực của đất nước cũng như phát triển nhu cầu học của mỗi cá nhân trong xã hội. Thông qua đó tập trung được sức lực của nhân dân để có thể đối mặt với những khó khăn và thách thức của khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Điều đó cũng đồng nghĩa, khi xây dựng được một trường học suốt đời là chính phủ đã tạo cơ hội thuận lợi cho mỗi người dân thực hiện được mong muốn học tập và mọi người đều có cơ hội phát huy đầy đủ tiềm năng của bản thân. Qua đó, Nhà nước tạo điều kiện cho người dân vừa chăm lo gia đình vừa tham gia học tập tùy thuộc vào thời gian, địa điểm và nhịp sống của bản thân. Việc tích lũy tri thức và kinh nghiệm sản xuất sẽ làm tăng hiệu quả lao động, mọi người cảm thấy thoải mái, hứng thú với công việc, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm làm ra trong xã hội. Có thể nói chắc chắn rằng, chế độ học tập suốt đời là chìa khóa để mở ra cánh cửa phát triển cho mọi quốc gia nói chung, đặc biệt là cho Việt Nam.

3.2. Thực trạng vấn đề học suốt đời ở Việt Nam

Tuy nhận thức được tầm quan trọng của việc học suốt đời nhưng ở Việt Nam, cho đến thời điểm hiện tại, vấn đề học tập suốt đời vẫn còn có nhiều bất cập. Theo đánh giá của UNDP, kết quả phỏng vấn 200 doanh nghiệp hàng đầu của Việt Nam cho thấy, những doanh nghiệp này đều phải tổ chức lại các khóa huấn luyện và đào tạo lại cho sinh viên sau khi tốt nghiệp các trường đại học và được nhận vào làm việc tại các doanh nghiệp đó. Báo Tuổi trẻ số ra ngày 25 tháng 8 năm 2008 cho biết, chỉ 40 % sinh viên Việt Nam có thái độ tích cực đối với việc học, phần còn lại cho rằng học chỉ là để đạt bằng cấp, chứng chỉ. Điều này giải thích xu hướng thích vào đại học và thích thi những ngành được xem là “hot” mà không để ý đến năng lực thực sự của bản thân. Nhiều sinh viên không tự xác định được nhu cầu học của bản thân nên thường chọn nghề theo xu hướng xã hội, tâm lý số đông hay phụ thuộc vào quyết định của cha mẹ. Do đó họ sẽ không có được nhu cầu học suốt đời. Nói về tâm lý phụ thuộc, sinh viên Việt Nam hầu như đã hình thành thói quen từ khi còn học ở trường mẫu giáo, tiểu học là có tâm lý coi “cô giáo là mẹ hiền”; cô bảo gì cũng nghe theo, không được làm khác, nếu không sẽ bị điểm kém. Việc dạy học như thế đã không phát huy được vai trò của cá nhân người học ngay từ khi còn học phổ thông. Có một so sánh thú vị là, ở Mỹ, khi cô giáo vẽ một con mèo lên bảng và yêu cầu học sinh cũng vẽ một con mèo để đem các bức tranh dán lên tường. Kết quả là, lớp học được “một đàn mèo” không con nào giống con nào. Còn lớp học ở Châu á, cũng với yêu cầu đó, con mèo của cô giáo đã được “nhân bản vô tính” thành n con mèo khác. Việt Nam tình hình cũng như vậy. Một khảo sát gần đây cho thấy, 80% số sinh viên Việt Nam được khảo sát có mức sáng tạo (creativity) dưới mức chuẩn của thế giới.

Trong việc dạy và học ở Việt Nam hiện nay, giáo viên chủ yếu vẫn là người ra quyết định, là nhân vật trung tâm của lớp học. Kiến thức mà sinh viên thu được phần nhiều là kiến thức một chiều, từ thầy đến trò, thiếu sự tương tác. Trong khi đó, sự tương tác là hết sức cần thiết vì nó giúp sinh viên hiểu sâu hơn những điều đang học và ngược lại, thông qua thảo luận, chia sẻ suy nghĩ những câu hỏi với sinh viên, giảng viên cũng học hỏi được nhiều điều bổ ích theo nguyên tắc tự phản ánh (self-reflection). Bên cạnh đó, chương trình học ở Việt Nam những năm gần đây tuy được cải tiến nhưng nhìn chung còn nặng, nhất là ở bậc học phổ thông. Kiến thức có phần thì thừa, có phần lại thiếu, thiên về lý thuyết khiến nhiều sinh viên không xác định được mục đích của việc học. Phải chăng vì điều này mà nhiều doanh nghiệp phải đào tạo lại nguồn nhân lực mà họ sử dụng?

Tài liệu học tập và tham khảo cũng là một vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng học cũng như ảnh hưởng đến khả năng học suốt đời của sinh viên. Có lẽ Việt Nam cũng như các quốc gia khác trên thế giới, không thiếu sách và tài liệu tham khảo khi mà Internet đã trở nên quá phổ biến. Vấn đề là sinh viên chưa tận dụng hết nguồn “tài nguyên” này. Sự phụ thuộc vào người dạy đã dẫn đến tâm lý ỷ lại, thậm chí nhiều sinh viên chỉ đọc thuộc giáo trình chứ chưa có nhu cầu tìm sách tham khảo. Chính điều này đã làm giảm mong muốn được học hỏi, được khám phá, nghĩa là chưa có được những tiêu chí cơ bản của việc học suốt đời. Bên cạnh đó, lý do không đủ trình độ ngoại ngữ để khai thác mạng cũng là yếu tố chính ảnh hưởng đến việc tìm kiếm tư liệu của sinh viên. Điều này, không đúng với “chân dung” về một người học suốt đời (có trình độ ngoại ngữ nhất định). Ngại tìm hiểu tư liệu dẫn đến việc nhiều sinh viên Việt Nam chưa có khả năng tự học, thái độ với việc tự học chưa tích cực, thiếu sáng tạo, ít cập nhật thông tin, khả năng giao tiếp và hoạt động nhóm còn hạn chế. Mặt khác đa phần sinh viên còn ngại trong việc tham gia các hoạt động xã hội, vô tình họ đã để tuột mất một phần nội dung rất quan trọng của việc học là học ở trường đời.

Tuy nhiên không thể phủ định rằng, sinh viên Việt Nam hầu hết rất thông minh, có khả năng vươn lên trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Vấn đề là họ cần được đặc biệt quan tâm trong quá trình đào tạo và tự đào tạo. Việc dạy cần phải hướng vào sự phát triển cá nhân sao cho cá nhân đó có thể vận dụng kiến thức thu nhận được ở trường học bằng chính sự yêu thích của mình để giúp ích cho công việc. Đồng thời, nhà trường cần trang bị cho người học cách học để họ có thể cập nhật kiến thức suốt đời chứ không chỉ dừng lại sau khi tốt nghiệp đại học hoặc chỉ học khi đến trường. Để làm được điều đó, những chính sách giáo dục cần phải lấy người học làm gốc, nghĩa là nên đi từ bên dưới lên chứ không áp đặt những suy nghĩ, chiến lược, mục tiêu của người hoạch định chính sách lên người học. Điều này nên áp dụng ngay từ bậc học đầu tiên vì bất cứ việc gì cũng phải được xây từ nền móng vững chắc mới bền lâu được. Ngược lại, người học cũng phải tự ý thức được rằng học là cho chính bản thân mình, là biến kiến thức của nhân loại thành tài sản của riêng mình. Họ phải có khả năng rèn luyện việc tự học và duy trì việc học suốt đời. Tác giả Knapper Cropely mô tả chân dung một sinh viên lý tưởng về khả năng học suốt đời trong tác phẩm “Lifelong Learning in Higher Education” như sau:

- Có ý thức cao độ về sự cần thiết của việc học suốt đời.

- Luôn hăng hái tham gia vào việc học suốt đời.

- Có những kỹ năng cần thiết cho việc học suốt đời.

- Xây dựng cho mình một kế hoạch học tập khả thi.

- ng dụng hiệu quả kiến thức đã học vào thực tế công việc.

- Tự đánh giá chính xác việc học của mình.

- Sử dụng hiệu quả các phương pháp học ở những môi trường học khác nhau.

- Sử dụng các phương tiện truyền thông, thư viện, các học liệu có liên quan.

- Có khả năng sử dụng và hiểu tài liệu của nhiều lĩnh vực khoa học.

3.3. Góp phần giải bài toán học suốt đời ở Việt Nam

Việt Nam là quốc gia đang phát triển, do vậy cơ sở vật chất và các nguồn lực đầu tư cho giáo dục đào tạo chưa nhiều. Nhiều trường đại học chủ yếu vẫn đào tạo theo phương thức truyền thống (dạy - học trực tiếp) dẫn đến tình trạng một số trường quá tải, chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của đông đảo tầng lớp nhân dân. Cho dù Nhà nước có đầu tư kinh phí để xây dựng thêm nhiều trường (theo mô hình truyền thống) thì cũng không thể thỏa mãn được nhu cầu học tập đa dạng của nhân dân và nhu cầu về nguồn nhân lực có tri thức của nền sản xuất hiện đại. Vấn đề đặt ra là phải phát huy tới mức cao nhất những nguồn lực sẵn có và sử dụng hiệu quả nhất nguồn trí tuệ của xã hội. Phương châm “giáo dục cho mọi người”, “đào tạo liên tục”, “học suốt đời” phải trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động giáo dục đào tạo. Vì vậy, giáo dục đào tạo cần phải được đổi mới cả về nội dung, phương pháp và phải đa dạng hóa hình thức dạy - học. Trong đó, giáo dục từ xa (GDTX) phải được ưu tiên thích đáng vì đó là giải pháp hữu hiệu để giải quyết bài toán về quan hệ giữa quy mô và chấtlượng đào tạo, là hướng đầu tư tiết kiệm mà hiệu quả. GDTX là tư duy mới của thời đại, đóng vai trò như một công cụ để tạo dựng xã hộihọc tập hiện đại.   

            Để giải quyết các bài toán về mâu thuẫn giữa quy mô và chất lượng đào tạo không thể chỉ trông chờ vào con đường đào tạo tập trung chính quy theo phương thức “mặt giáp mặt” vì những lý do sau :    

- Cơ sở vật chất và nguồn lực cho giáo dục của Việt Nam không đủ năng lực đáp ứng, trước hết phải lo cho 24 triệu học sinh các cấp, các trường lớp chính quy đã quá tải.     

- Hàng chục triệu người lao động ở mọi ngành nghề, ở mọi vùng miền, mọi lĩnh vực, mọi cấp học khác nhau có nhu cầu và nguyện vọng được nâng cao trình độ, bồi dưỡng cập nhật kiến thức nhưng không thể rứt khỏi công việc vì nhiều lý do. Chắc chắn phương thức giáo dục thường xuyên đặc biệt là giáo dục từ xa sẽ góp phần tích cực giải quyết các nhu cầu và nguyện vọng học tập chính đáng này.   

- Hàng năm có hàng triệu thanh niên không được tuyển chọn vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp bước vào cuộc sống lao động. Giáo dục thường xuyên sẽ đáp ứng được nhu cầu “phân luồng” này. Một mặt cần phải giảm áp lực và mâu thuẫn giữa quy mô và chất lượng cho hệ thống giáo dục chính quy (GDCQ), mặt khác giáo dục thường xuyên phải mở ra nhiều kênh cho nhu cầu học tập của nhân dân để chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hiện nay và trong những năm sắp tới cơ sở hạ tầng và công nghệ thông tin, kỹ thuật nghe - nhìn phát triển ngày càng nhanh chóng và giá thành ngày một hạ (máy tính, truyền hình, truyền thanh, mạng internet, kỹ thuật số, các trang Web, CDR,VCD, DVD...). Đó là những cơ sở thuận lợi để phát triển giáo dục từ xa và chuyển tải thông tin một cách hữu hiệu tới mọi đối tượng có nhu cầu học tập ở các lĩnh vực, các vùng miền và cấp học khác nhau. 

Có thể minh chứng điều này qua ví dụ sau đây trong ngành giáo dục và đào tạo:

Hiện nay số giáo viên tiểu học và trung học cơ sở trong cả nước khoảng 600.000 người. Việc nâng chuẩn trình độ cho đội ngũ này nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách giáo dục, đổi mới chương trình, phương pháp dạy học, thay sách giáo khoa là một công việc cấp bách và rất khó khăn. Do hoàn cảnh công tác đặc thù của nghề giáo, việc đào tạo bồi dưỡng thường xuyên nhằm nâng chuẩn trình độ cho đội ngũ giáo viên bằng phương thức từ xa sẽ rất thích hợp. Trong số trên 130.000 học viên hệ đào tạo từ xa trong cả nước hiện nay đã có đến 2/3 giáo viên tiểu học và trung học cơ sở là học viên từ xa của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Huế .

Việc bồi dưỡng giáo viên thường xuyên hoặc theo chu kỳ - các đợt huấn luyện theo kế hoạch của Bộ Giáo dục và Đào tạo (triệu tập hàng nghìn, hàng vạn giáo viên về tỉnh, về huyện để bồi dưỡng vài ngày) gặp nhiều khó khăn tốn kém, không đáp ứng được yêu cầu đổi mới chương trình, thay sách giáo khoa. Do đó thực hiện việc bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên bằng phương thức từ xa là thích hợp nhất. Tất nhiên muốn công tác bồi dưỡng giáo viên thực sự hiệu quả thì phải chuẩn bị thật đầy đủ các học liệu nghe - nhìn có chất lượng, tổ chức tốt việc truyền thông qua nhiều kênh (truyền hình, truyền thanh, CNTT, tài liệu in ấn, học liệu nghe-nhìn VCD, DVD...), việc tổ chức truyền phát học liệu, tiếp nhận nội dung, đánh giá kết quả ở tất cả các cấp học phải thực sự nghiêm túc.

Hiện tại, giáo dục từ xa ở Việt Nam đang phát triển theo lộ trình sau:

1. Nâng cấp chất lượng các giáo trình và tài liệu tham khảo cho người tự học là tạo điều kiện cơ bản để nâng cao chất lượng GDTX, trong đó lưu ý đến:

1.1. Yếu tố điều khiển quá trình học tập.

1.2. Yếu tố gợi mở và chi phối phương pháp học tập hòa nhập vào nội dung.

1.3. Những yếu tố dẫn dắt để người học tự phát hiện khám phá và giải quyết vấn đề.  

1.4. Khắc phục sự thiếu hụt các cảm xúc sư phạm do khoảng cách giữa người dạy và người học chi phối.

2. Trang bị phương pháp luận tự học, dạy cách học cho học viên, nuôi dưỡng khát vọng học suốt đời.

3. Sớm có thêm nhiều học liệu phong phú đa dạng, hấp dẫn (băng hình, đĩa VCD, CDR, các phần mềm, sách điện tử...) phù hợp với điều kiện tự học của giáo viên ở các vùng miền.

4.1. Tổ chức đánh giá chất lượng học tập từ xa khách quan, chính xác thông qua ngân hàng đề thi.

            5. Tăng cường mối liên hệ giữa trường đại học với các cơ sở liên kết đào tạo.

            Với những bước đi như trên, giáo dục từ xa ở Việt Nam đã và đang thu được những thành tựu đáng kể, góp phần vào việc xây dựng một xã hội học tập. Tính riêng ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trong 14 năm tổ chức thực hiện đào tạo từ xa, đến nay đã có hơn bốn vạn giáo viên tham gia theo học hệ cử nhân. Điều này chứng tỏ ưu thế của công tác đào tạo từ xa và cũng là dẫn chứng sinh động về hiệu quả của việc học suốt đời. Chúng ta tin rằng, trong những năm tới, bài toán về học suốt đời ở Việt Nam sẽ có lời giải thỏa đáng và giáo dục từ xa chính là một dữ kiện không thể thiếu trong việc giải bài toán đó. Cũng có nghĩa là Việt Nam có quyền hy vọng vào một tương lai xán lạn mà ở đó sự phát triển của xã hội song hành với sự phát triển của từng cá nhân.

(Source: Đỗ Xuân Thảo - Trường ĐHSP Hà Nội - Bản tin GDTX&TC số 19 tháng 12/2008 )
Read on >>
  
  

Read on >>
  
  
  
  
  
  
  
  
  
  
GIÁO DỤC SUỐT ĐỜI Ở VIỆT NAM
Con người là vốn quý của xã hội, là một thành tố cấu thành nền kinh tế - văn hóa - chính trị của một quốc gia. Trên thế giới, ngày càng có nhiều các tổ chức giáo dục được thành lập. Một trong những mục đích của các tổ chức này nhằm kêu gọi các nước hãy đầu tư cho nguồn lực kinh tế tri thức bằng một phương tiện giáo dục kinh tế nhưng lại rất có hiệu quả, đó là giáo dục thông qua việc dạy - học suốt đời.


Con người là vốn quý của xã hội, là một thành tố cấu thành nền kinh tế - văn hóa - chính trị của một quốc gia. Trên thế giới, ngày càng có nhiều các tổ chức giáo dục được thành lập. Một trong những mục đích của các tổ chức này nhằm kêu gọi các nước hãy đầu tư cho nguồn lực kinh tế tri thức bằng một phương tiện giáo dục kinh tế nhưng lại rất có hiệu quả, đó là giáo dục thông qua việc dạy - học suốt đời. Vậy quan niệm Học suốt đời cần được hiểu như thế nào và phải làm gì để thực hiện việc học suốt đời? Trong phạm vi bài báo nhỏ này, chúng tôi sẽ phân tích tầm quan trọng, vai trò của việc học suốt đời và đưa ra một số biện pháp góp phần giải quyết bài toán học suốt đời ở Việt Nam.

1. Quan niệm học suốt đời và tầm quan trọng của việc học suốt đời

1.1. Nhìn chung việc học được quan niệm là để hiểu biết (learn to know) và để làm việc (learn to do). Tuy nhiên học thật sự không chỉ để biết và để làm. Trong xã hội đầy biến động ngày nay với xu thế toàn cầu hóa, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin thì learn whatlaern how trở nên hết sức cần thiết nhưng chưa đủ. Làm sao để một người có thể hiểu biết những gì diễn ra xung quanh mình và sử dụng lượng kiến thức thu nhận được để tác động có hiệu quả vào thực tiễn? Cách duy nhất là học và cập nhật kiến thức suốt đời (lifelong learning) để biết, để hiểu, để giao tiếp và nói rộng hơn là để có thể tồn tại (learn to be). Thế giới ngày càng xích lại gần nhau, mỗi cá nhân không chỉ học cho riêng mình mà còn học cho cả cộng đồng, học lẫn nhau và học để chung sống (learn to live togerther). Theo quan điểm kinh tế, học chính là một hình thức đầu tư để phát triển kinh tế và chống lại những hậu quả tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa như nạn thất nghiệp, sự mất cân bằng xã hội và những lo lắng về sự đổi thay mang tính kinh tế - chính trị. Bởi vì con người là nguồn vốn đặc biệt trong quá trình sản xuất. Máy móc chỉ hoạt động ở một mức độ có giới hạn. Nguyên liệu và nhiên liệu có thể cạn kiệt nhưng sức học và sự tìm tòi khám phá của con người là vô hạn. Chính vì vậy, cá nhân học tập không chỉ là để mang lại lợi ích cho chính mình mà còn vì lợi ích của cộng đồng.

1.2. Quan niệm như trên về việc học suốt đời cho phép chúng ta rút ra những nội dung cơ bản của khái niệm học suốt đời trong xã hội đương đại dưới những phương diện sau:

- Học suốt đời đem lại sự tăng trưởng về số lượng tri thức tích lũy được.

- Học suốt đời giúp ghi nhớ, tích trữ thông tin để có thể tái sản xuất khi cần thiết.

- Vừa học vừa làm giúp cho khối lượng tri thức thu nhận được có ý nghĩa thực tiễn, có kỹ năng và phương pháp để vận dụng lý luận vào thực tiễn.

- Nhờ việc học liên tục, người học luôn cập nhật kiến thức mới mẻ, hiện đại, đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững của cộng đồng.

2. “Chân dung” của người học suốt đời trong xã hội hiện đại

2.1. Học tập suốt đời trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân vì mục tiêu cuối cùng của các chính sách, các chương trình hành động quốc gia hay toàn cầu là giúp cho mỗi cá nhân đạt được kiến thức, kỹ năng để có thể hòa nhập với những thay đổi nhanh chóng của hoàn cảnh xã hội. Sự thay đổi quan niệm từ giáo dục suốt đời đến học tập suốt đời là quá trình từng bước đưa người học từ vị trí thụ động trở thành người chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập nhất là đối với người trưởng thành. Trong hoàn cảnh học tập suốt đời đang trở thành nguyên tắc cơ bản của đổi mới giáo dục, hướng đến xây dựng một xã hội học tập ở nhiều quốc gia trên thế giới, có lẽ cũng cần thiết để mỗi cá nhân tự “soi mình” trong chân dung của một người học suốt đời. Người học suốt đời là người luôn cảm thấy hài lòng với chính mình khi được học những điều mới mẻ. Họ luôn thích thú với những kinh nghiệm đúc rút được từ thực tiễn, say sưa với những ý tưởng mới tích lũy được cho dù họ đang làm bất cứ công việc gì. Đối với họ, học tập không phải là một công việc quá đặc biệt mà trở thành một phần trong thói quen hàng ngày. Họ cảm thấy hứng thú khi phải đối diện với những thử thách trong cuộc sống. Điểm dễ nhận thấy là họ ý thức rất rõ những điều mình không biết nhưng không trở nên buồn phiền vì điều đó. Người học suốt đời hiểu rằng, luôn luôn có những điều cần phải học thêm, hiểu biết sâu sắc hơn hoặc học để làm tốt hơn. Vì không e ngại trước cái chưa biết của mình nên họ có thể dễ dàng thừa nhận những sai sót, những hạn chế và sẵn sàng tìm nguyên nhân của những sai sót đó. Chính vì vậy, khi bắt tay vào làm việc, họ có thể sử dụng những kiến thức mới một cách nhanh chóng và tìm thấy được mối liên hệ giữa những kiến thức đã biết và những điều vừa học được. Tự tin vào khả năng của bản thân để học tập và hiểu biết cũng là thái độ quan trọng của người học suốt đời. Người học suốt đời tin rằng mình có thể chiếm lĩnh tri thức, những điều mình muốn biết bằng khát vọng mãnh liệt và luôn theo đuổi phương pháp đúng. Đặc biệt, người học suốt đời cũng tin tưởng rằng thời gian đầu tư cho học tập là khoản đầu tư tốt nhất cho sự phát triển cá nhân và nghề nghiệp trong tương lai. Họ học tập những điều mới mẻ không chỉ cho ngày hôm nay mà còn để chuẩn bị cho tương lai. Vượt lên trên những động cơ về bằng cấp, vị trí xã hội, người học suốt đời nhận thức được tầm quan trọng của việc học tập đối với sự phát triển toàn diện của cá nhân và hơn hết, họ tìm được niềm vui trong học tập. Chính những động cơ “bên trong” này sẽ giúp người học phát triển tối đa những tiềm năng cá nhân. Người học suốt đời biết sử dụng những công cụ khám phá thế giới. Internet, truyền hình, truyền thanh, sách báo, những chương trình đào tạo ngắn hạn, những hội thảo, những khóa học từ xa, việc du lịch khám phá thế giới... đều là trường học của người học suốt đời.

2.2. Để có thể sử dụng tốt những cơ hội học tập, người học suốt đời cần từng bước làm chủ những kỹ năng tư duy như suy nghĩ tích cực, sáng tạo, biết phê phán để có thể đưa ra những quyết định đúng, phát triển và giải quyết vấn đề. Người học suốt đời là người học trong môi trường xã hội nên những kỹ năng như giao tiếp, làm việc tập thể cũng cần được quan tâm rèn luyện. Biết cách sử dụng những kinh nghiệm của bản thân ngày càng được xem là một kỹ năng quan trọng đối với những người học suốt đời. Người học suốt đời cần phải biết hạn chế và loại bỏ những quan niệm hay thói quen học tập gây trở ngại cho sự phê phán và sáng tạo khi tiếp cận giải quyết một vấn đề. Từ đó vốn kinh nghiệm sẽ trở thành một nguồn tài nguyên lành mạnh. Bên cạnh việc sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ, làm chủ ngoại ngữ trở thành một công cụ quan trọng của người học suốt đời. Ngoại ngữ không chỉ giúp người học tiếp cận với tri thức thế giới mà còn để hiểu biết và chấp nhận những nền văn hóa khác. Sự giao lưu văn hóa diễn ra ngày càng đa dạng chỉ có thể trở thành hiện thực khi có được sự hiểu biết lẫn nhau về văn hóa, trong đó ngôn ngữ là một yếu tố quan trọng. Các chính sách xây dựng xã hội học tập suốt đời ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xem việc học thêm tối thiểu một ngoại ngữ là một nội dung quan trọng hàng đầu.

Mặt khác, hiểu biết về chính bản thân mình cũng là những kiến thức không thể thiếu được của một người học suốt đời. Mục đích, nội dung và phương pháp học tập của người học suốt đời căn bản dựa trên những hiểu biết về bản thân người học. Mục đích học tập của từng nội dung hay từng giai đoạn sống cần phù hợp với mục đích và triết lý sống của người học. Sự quan tâm, sở thích, niềm đam mê sẽ giúp người học lựa chọn “học cái gì?”. Hiện nay thế giới có xu hướng phổ biến là trên các website về giáo dục từ xa hay giáo dục nói chung đều có đưa ra những trắc nghiệm tâm lý, nhân cách giúp người học xác định “Tôi là ai?”, “Tôi đang ở đâu và thực sự muốn đi đến đâu”? Những câu hỏi đó rất cần thiết cho người học khi họ bắt đầu một quá trình học tập dù là để theo đuổi một bằng cấp dài hạn hay một chương trình huấn luyện kỹ năng ngắn hạn.

ở một khía cạnh khác, không phải ngẫu nhiên mà những kết quả nghiên cứu mới nhất về bộ não thường được giới thiệu trong các hội nghị về học tập suốt đời trên thế giới. ý thức được rằng, vùng “lãnh thổ” con người ít biết đến nhất chính là khoảng cách từ hai lỗ tai. Chính vì thế, người học suốt đời biết tối ưu hóa khả năng hoạt động của bộ não bằng việc chấp nhận những thử thách trong học tập khi tiếp cận những vấn đề mới mẻ và khó khăn. Bên cạnh đó, người học suốt đời là người biết khai thác và sử dụng hợp lý cơ cấu trí khôn để trong quá trình học tập không chỉ sử dụng phép suy lý mà còn tưởng tượng, sử dụng cảm giác, kể cả trực giác để học tập có hiệu quả.

3. Vấn đề học suốt đời trong sự phát triển bền vững của Việt Nam
3.1. Vai trò của học suốt đời ở Việt Nam

Bất kỳ một xã hội nào, muốn phát triển lâu dài và bền vững cũng cần hướng đến các chính sách khuyến khích việc học suốt đời cho mọi đối tượng trong xã hội. Bởi vì, ở trường học suốt đời (School of Lifelong Learning) người lao động sẽ nhận được nguồn thông tin liên quan đến việc tham gia học tập, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp, tìm kiếm sự hỗ trợ cần thiết từ việc làm đến ổn định việc làm thông qua các trung tâm nghề nghiệp được thiết lập trên toàn quốc. ở Việt Nam điều này lại càng cần thiết. Do ảnh hưởng lâu dài của chiến tranh, Việt Nam hiện nay có hơn 50 triệu người lao động có nhu cầu bồi dưỡng, đào tạo lại, cập nhật kiến thức, học suốt đời. Chỉ có làm được những điều đó, chúng ta mới có thể chuyển đổi cơ cấu nguồn nhân lực từ sản xuất nhỏ sang nền kinh tế công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Bên cạnh đó nội lực nền kinh tế Việt Nam chưa mạnh, kinh tế thế giới còn chi phối đến thị trường trong nước khá rõ nét. Nếu kinh tế của các thị trường trên thế giới suy giảm sẽ ảnh hưởng tức thì đến nền kinh tế Việt Nam. Vì thế, thông qua chế độ học tập suốt đời, Việt Nam sẽ tạo được môi trường học tập văn hóa lành mạnh, có ích cho sự phát triển nội lực của đất nước cũng như phát triển nhu cầu học của mỗi cá nhân trong xã hội. Thông qua đó tập trung được sức lực của nhân dân để có thể đối mặt với những khó khăn và thách thức của khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Điều đó cũng đồng nghĩa, khi xây dựng được một trường học suốt đời là chính phủ đã tạo cơ hội thuận lợi cho mỗi người dân thực hiện được mong muốn học tập và mọi người đều có cơ hội phát huy đầy đủ tiềm năng của bản thân. Qua đó, Nhà nước tạo điều kiện cho người dân vừa chăm lo gia đình vừa tham gia học tập tùy thuộc vào thời gian, địa điểm và nhịp sống của bản thân. Việc tích lũy tri thức và kinh nghiệm sản xuất sẽ làm tăng hiệu quả lao động, mọi người cảm thấy thoải mái, hứng thú với công việc, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm làm ra trong xã hội. Có thể nói chắc chắn rằng, chế độ học tập suốt đời là chìa khóa để mở ra cánh cửa phát triển cho mọi quốc gia nói chung, đặc biệt là cho Việt Nam.

3.2. Thực trạng vấn đề học suốt đời ở Việt Nam

Tuy nhận thức được tầm quan trọng của việc học suốt đời nhưng ở Việt Nam, cho đến thời điểm hiện tại, vấn đề học tập suốt đời vẫn còn có nhiều bất cập. Theo đánh giá của UNDP, kết quả phỏng vấn 200 doanh nghiệp hàng đầu của Việt Nam cho thấy, những doanh nghiệp này đều phải tổ chức lại các khóa huấn luyện và đào tạo lại cho sinh viên sau khi tốt nghiệp các trường đại học và được nhận vào làm việc tại các doanh nghiệp đó. Báo Tuổi trẻ số ra ngày 25 tháng 8 năm 2008 cho biết, chỉ 40 % sinh viên Việt Nam có thái độ tích cực đối với việc học, phần còn lại cho rằng học chỉ là để đạt bằng cấp, chứng chỉ. Điều này giải thích xu hướng thích vào đại học và thích thi những ngành được xem là “hot” mà không để ý đến năng lực thực sự của bản thân. Nhiều sinh viên không tự xác định được nhu cầu học của bản thân nên thường chọn nghề theo xu hướng xã hội, tâm lý số đông hay phụ thuộc vào quyết định của cha mẹ. Do đó họ sẽ không có được nhu cầu học suốt đời. Nói về tâm lý phụ thuộc, sinh viên Việt Nam hầu như đã hình thành thói quen từ khi còn học ở trường mẫu giáo, tiểu học là có tâm lý coi “cô giáo là mẹ hiền”; cô bảo gì cũng nghe theo, không được làm khác, nếu không sẽ bị điểm kém. Việc dạy học như thế đã không phát huy được vai trò của cá nhân người học ngay từ khi còn học phổ thông. Có một so sánh thú vị là, ở Mỹ, khi cô giáo vẽ một con mèo lên bảng và yêu cầu học sinh cũng vẽ một con mèo để đem các bức tranh dán lên tường. Kết quả là, lớp học được “một đàn mèo” không con nào giống con nào. Còn lớp học ở Châu á, cũng với yêu cầu đó, con mèo của cô giáo đã được “nhân bản vô tính” thành n con mèo khác. Việt Nam tình hình cũng như vậy. Một khảo sát gần đây cho thấy, 80% số sinh viên Việt Nam được khảo sát có mức sáng tạo (creativity) dưới mức chuẩn của thế giới.

Trong việc dạy và học ở Việt Nam hiện nay, giáo viên chủ yếu vẫn là người ra quyết định, là nhân vật trung tâm của lớp học. Kiến thức mà sinh viên thu được phần nhiều là kiến thức một chiều, từ thầy đến trò, thiếu sự tương tác. Trong khi đó, sự tương tác là hết sức cần thiết vì nó giúp sinh viên hiểu sâu hơn những điều đang học và ngược lại, thông qua thảo luận, chia sẻ suy nghĩ những câu hỏi với sinh viên, giảng viên cũng học hỏi được nhiều điều bổ ích theo nguyên tắc tự phản ánh (self-reflection). Bên cạnh đó, chương trình học ở Việt Nam những năm gần đây tuy được cải tiến nhưng nhìn chung còn nặng, nhất là ở bậc học phổ thông. Kiến thức có phần thì thừa, có phần lại thiếu, thiên về lý thuyết khiến nhiều sinh viên không xác định được mục đích của việc học. Phải chăng vì điều này mà nhiều doanh nghiệp phải đào tạo lại nguồn nhân lực mà họ sử dụng?

Tài liệu học tập và tham khảo cũng là một vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng học cũng như ảnh hưởng đến khả năng học suốt đời của sinh viên. Có lẽ Việt Nam cũng như các quốc gia khác trên thế giới, không thiếu sách và tài liệu tham khảo khi mà Internet đã trở nên quá phổ biến. Vấn đề là sinh viên chưa tận dụng hết nguồn “tài nguyên” này. Sự phụ thuộc vào người dạy đã dẫn đến tâm lý ỷ lại, thậm chí nhiều sinh viên chỉ đọc thuộc giáo trình chứ chưa có nhu cầu tìm sách tham khảo. Chính điều này đã làm giảm mong muốn được học hỏi, được khám phá, nghĩa là chưa có được những tiêu chí cơ bản của việc học suốt đời. Bên cạnh đó, lý do không đủ trình độ ngoại ngữ để khai thác mạng cũng là yếu tố chính ảnh hưởng đến việc tìm kiếm tư liệu của sinh viên. Điều này, không đúng với “chân dung” về một người học suốt đời (có trình độ ngoại ngữ nhất định). Ngại tìm hiểu tư liệu dẫn đến việc nhiều sinh viên Việt Nam chưa có khả năng tự học, thái độ với việc tự học chưa tích cực, thiếu sáng tạo, ít cập nhật thông tin, khả năng giao tiếp và hoạt động nhóm còn hạn chế. Mặt khác đa phần sinh viên còn ngại trong việc tham gia các hoạt động xã hội, vô tình họ đã để tuột mất một phần nội dung rất quan trọng của việc học là học ở trường đời.

Tuy nhiên không thể phủ định rằng, sinh viên Việt Nam hầu hết rất thông minh, có khả năng vươn lên trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Vấn đề là họ cần được đặc biệt quan tâm trong quá trình đào tạo và tự đào tạo. Việc dạy cần phải hướng vào sự phát triển cá nhân sao cho cá nhân đó có thể vận dụng kiến thức thu nhận được ở trường học bằng chính sự yêu thích của mình để giúp ích cho công việc. Đồng thời, nhà trường cần trang bị cho người học cách học để họ có thể cập nhật kiến thức suốt đời chứ không chỉ dừng lại sau khi tốt nghiệp đại học hoặc chỉ học khi đến trường. Để làm được điều đó, những chính sách giáo dục cần phải lấy người học làm gốc, nghĩa là nên đi từ bên dưới lên chứ không áp đặt những suy nghĩ, chiến lược, mục tiêu của người hoạch định chính sách lên người học. Điều này nên áp dụng ngay từ bậc học đầu tiên vì bất cứ việc gì cũng phải được xây từ nền móng vững chắc mới bền lâu được. Ngược lại, người học cũng phải tự ý thức được rằng học là cho chính bản thân mình, là biến kiến thức của nhân loại thành tài sản của riêng mình. Họ phải có khả năng rèn luyện việc tự học và duy trì việc học suốt đời. Tác giả Knapper Cropely mô tả chân dung một sinh viên lý tưởng về khả năng học suốt đời trong tác phẩm “Lifelong Learning in Higher Education” như sau:

- Có ý thức cao độ về sự cần thiết của việc học suốt đời.

- Luôn hăng hái tham gia vào việc học suốt đời.

- Có những kỹ năng cần thiết cho việc học suốt đời.

- Xây dựng cho mình một kế hoạch học tập khả thi.

- ng dụng hiệu quả kiến thức đã học vào thực tế công việc.

- Tự đánh giá chính xác việc học của mình.

- Sử dụng hiệu quả các phương pháp học ở những môi trường học khác nhau.

- Sử dụng các phương tiện truyền thông, thư viện, các học liệu có liên quan.

- Có khả năng sử dụng và hiểu tài liệu của nhiều lĩnh vực khoa học.

3.3. Góp phần giải bài toán học suốt đời ở Việt Nam

Việt Nam là quốc gia đang phát triển, do vậy cơ sở vật chất và các nguồn lực đầu tư cho giáo dục đào tạo chưa nhiều. Nhiều trường đại học chủ yếu vẫn đào tạo theo phương thức truyền thống (dạy - học trực tiếp) dẫn đến tình trạng một số trường quá tải, chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của đông đảo tầng lớp nhân dân. Cho dù Nhà nước có đầu tư kinh phí để xây dựng thêm nhiều trường (theo mô hình truyền thống) thì cũng không thể thỏa mãn được nhu cầu học tập đa dạng của nhân dân và nhu cầu về nguồn nhân lực có tri thức của nền sản xuất hiện đại. Vấn đề đặt ra là phải phát huy tới mức cao nhất những nguồn lực sẵn có và sử dụng hiệu quả nhất nguồn trí tuệ của xã hội. Phương châm “giáo dục cho mọi người”, “đào tạo liên tục”, “học suốt đời” phải trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động giáo dục đào tạo. Vì vậy, giáo dục đào tạo cần phải được đổi mới cả về nội dung, phương pháp và phải đa dạng hóa hình thức dạy - học. Trong đó, giáo dục từ xa (GDTX) phải được ưu tiên thích đáng vì đó là giải pháp hữu hiệu để giải quyết bài toán về quan hệ giữa quy mô và chấtlượng đào tạo, là hướng đầu tư tiết kiệm mà hiệu quả. GDTX là tư duy mới của thời đại, đóng vai trò như một công cụ để tạo dựng xã hộihọc tập hiện đại.   

            Để giải quyết các bài toán về mâu thuẫn giữa quy mô và chất lượng đào tạo không thể chỉ trông chờ vào con đường đào tạo tập trung chính quy theo phương thức “mặt giáp mặt” vì những lý do sau :    

- Cơ sở vật chất và nguồn lực cho giáo dục của Việt Nam không đủ năng lực đáp ứng, trước hết phải lo cho 24 triệu học sinh các cấp, các trường lớp chính quy đã quá tải.     

- Hàng chục triệu người lao động ở mọi ngành nghề, ở mọi vùng miền, mọi lĩnh vực, mọi cấp học khác nhau có nhu cầu và nguyện vọng được nâng cao trình độ, bồi dưỡng cập nhật kiến thức nhưng không thể rứt khỏi công việc vì nhiều lý do. Chắc chắn phương thức giáo dục thường xuyên đặc biệt là giáo dục từ xa sẽ góp phần tích cực giải quyết các nhu cầu và nguyện vọng học tập chính đáng này.   

- Hàng năm có hàng triệu thanh niên không được tuyển chọn vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp bước vào cuộc sống lao động. Giáo dục thường xuyên sẽ đáp ứng được nhu cầu “phân luồng” này. Một mặt cần phải giảm áp lực và mâu thuẫn giữa quy mô và chất lượng cho hệ thống giáo dục chính quy (GDCQ), mặt khác giáo dục thường xuyên phải mở ra nhiều kênh cho nhu cầu học tập của nhân dân để chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hiện nay và trong những năm sắp tới cơ sở hạ tầng và công nghệ thông tin, kỹ thuật nghe - nhìn phát triển ngày càng nhanh chóng và giá thành ngày một hạ (máy tính, truyền hình, truyền thanh, mạng internet, kỹ thuật số, các trang Web, CDR,VCD, DVD...). Đó là những cơ sở thuận lợi để phát triển giáo dục từ xa và chuyển tải thông tin một cách hữu hiệu tới mọi đối tượng có nhu cầu học tập ở các lĩnh vực, các vùng miền và cấp học khác nhau. 

Có thể minh chứng điều này qua ví dụ sau đây trong ngành giáo dục và đào tạo:

Hiện nay số giáo viên tiểu học và trung học cơ sở trong cả nước khoảng 600.000 người. Việc nâng chuẩn trình độ cho đội ngũ này nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách giáo dục, đổi mới chương trình, phương pháp dạy học, thay sách giáo khoa là một công việc cấp bách và rất khó khăn. Do hoàn cảnh công tác đặc thù của nghề giáo, việc đào tạo bồi dưỡng thường xuyên nhằm nâng chuẩn trình độ cho đội ngũ giáo viên bằng phương thức từ xa sẽ rất thích hợp. Trong số trên 130.000 học viên hệ đào tạo từ xa trong cả nước hiện nay đã có đến 2/3 giáo viên tiểu học và trung học cơ sở là học viên từ xa của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Huế .

Việc bồi dưỡng giáo viên thường xuyên hoặc theo chu kỳ - các đợt huấn luyện theo kế hoạch của Bộ Giáo dục và Đào tạo (triệu tập hàng nghìn, hàng vạn giáo viên về tỉnh, về huyện để bồi dưỡng vài ngày) gặp nhiều khó khăn tốn kém, không đáp ứng được yêu cầu đổi mới chương trình, thay sách giáo khoa. Do đó thực hiện việc bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên bằng phương thức từ xa là thích hợp nhất. Tất nhiên muốn công tác bồi dưỡng giáo viên thực sự hiệu quả thì phải chuẩn bị thật đầy đủ các học liệu nghe - nhìn có chất lượng, tổ chức tốt việc truyền thông qua nhiều kênh (truyền hình, truyền thanh, CNTT, tài liệu in ấn, học liệu nghe-nhìn VCD, DVD...), việc tổ chức truyền phát học liệu, tiếp nhận nội dung, đánh giá kết quả ở tất cả các cấp học phải thực sự nghiêm túc.

Hiện tại, giáo dục từ xa ở Việt Nam đang phát triển theo lộ trình sau:

1. Nâng cấp chất lượng các giáo trình và tài liệu tham khảo cho người tự học là tạo điều kiện cơ bản để nâng cao chất lượng GDTX, trong đó lưu ý đến:

1.1. Yếu tố điều khiển quá trình học tập.

1.2. Yếu tố gợi mở và chi phối phương pháp học tập hòa nhập vào nội dung.

1.3. Những yếu tố dẫn dắt để người học tự phát hiện khám phá và giải quyết vấn đề.  

1.4. Khắc phục sự thiếu hụt các cảm xúc sư phạm do khoảng cách giữa người dạy và người học chi phối.

2. Trang bị phương pháp luận tự học, dạy cách học cho học viên, nuôi dưỡng khát vọng học suốt đời.

3. Sớm có thêm nhiều học liệu phong phú đa dạng, hấp dẫn (băng hình, đĩa VCD, CDR, các phần mềm, sách điện tử...) phù hợp với điều kiện tự học của giáo viên ở các vùng miền.

4.1. Tổ chức đánh giá chất lượng học tập từ xa khách quan, chính xác thông qua ngân hàng đề thi.

            5. Tăng cường mối liên hệ giữa trường đại học với các cơ sở liên kết đào tạo.

            Với những bước đi như trên, giáo dục từ xa ở Việt Nam đã và đang thu được những thành tựu đáng kể, góp phần vào việc xây dựng một xã hội học tập. Tính riêng ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trong 14 năm tổ chức thực hiện đào tạo từ xa, đến nay đã có hơn bốn vạn giáo viên tham gia theo học hệ cử nhân. Điều này chứng tỏ ưu thế của công tác đào tạo từ xa và cũng là dẫn chứng sinh động về hiệu quả của việc học suốt đời. Chúng ta tin rằng, trong những năm tới, bài toán về học suốt đời ở Việt Nam sẽ có lời giải thỏa đáng và giáo dục từ xa chính là một dữ kiện không thể thiếu trong việc giải bài toán đó. Cũng có nghĩa là Việt Nam có quyền hy vọng vào một tương lai xán lạn mà ở đó sự phát triển của xã hội song hành với sự phát triển của từng cá nhân.

(Source: Đỗ Xuân Thảo - Trường ĐHSP Hà Nội - Bản tin GDTX&TC số 19 tháng 12/2008 )
Read on >>
  
  
  
  
  

Read on >>
  
  
  
  
  
Đc: Tầng 6 Nhà Hành chính Hiệu bộ - Trường đại học Sư phạm Hà Nội
136 Xuân Thủy - Cầu Giấy - HN