Welcome to International Physics Olympiad 2008, Hanoi-Vietnam  
Số lượt truy cập
1299247
    30 Tháng Chín 2014 | , Đăng Nhập | SiteMap   Tìm Kiếm
    Bản tin từ xa và tại chức » Diễn đàn giáo dục
CÁC CƠ SỞ ĐỂ XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU GIÁO DỤC HIỆN NAY
Trước đây, ở Việt Nam, khẩu hiệu của giáo dục, đào tạo là: Đào tạo ra những con người vừa hồng vừa chuyên, hoặc: Đào tạo ra những con người có đủ tài đức, hoặc: Mục tiêu giáo dục bao gồm các mặt đức, trí, thể, mỹ, lao động...


Trước đây, ở Việt Nam, khẩu hiệu của giáo dục, đào tạo là: Đào tạo ra những con người vừa hồng vừa chuyên, hoặc: Đào tạo ra những con người có đủ tài đức, hoặc: Mục tiêu giáo dục bao gồm các mặt đức, trí, thể, mỹ, lao động... Mới đây,điều 27 Luật Giáo dục (2005) ghi rõ: 1. Mục tiêu của Giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản. 2. Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở và các cấp học trên. Song, nếu hỏi các nhà quản lý giáo dục và các giáo viên hiểu và giải thích về mục tiêu trên như thế nào, đặc biệt nếu hỏi về các kỹ năng, kiến thức và tư duy trí tuệ học sinh cần phải đạt được là gì thì chắc sẽ có rất nhiều cách hiểu và giải thích khác nhau.

          Xác định rõ mục tiêu giáo dục là một điều rất quan trọng và cần thiết vì nó định hướng chiến lược đầu tư giáo dục, xây dựng nội dung chương trình, chọn lọc nội dung, xác định và chi phối toàn bộ công tác quản lý, điều hành các bậc học và toàn bộ phương pháp dạy và học. Ví dụ, nếu như mục tiêu của nhà trường đặt ra là học sinh phải đạt điểm cao và đạt được bằng cấp thì chỉ cần dạy theo kiểu đọc chép, học thuộc lòng, hoặc cho học sinh đến các lớp chuyên luyện thi để nhồi thật nhiều “tủ” nhằm nâng cao điểm số và tìm mọi cách để có được tấm bằng, như thế là hoàn thành mục tiêu đào tạo.Có lẽ việc xác định mục tiêu sai hoặc quá chung chung là nguyên nhân của mọi nguyên nhân sinh ra các căn bệnh trầm kha của giáo dục. Vậy, việc xác đinh mục tiêu giáo dục ngày nay dựa trên những cơ sở nào? Sau đây chúng tôi sẽ phân tích một số cơ sở chủ yếu:

1. Các quan niệm về trẻ em thời đại ngày nay

          Tuổi thơ là giai đoạn quan trọng của cuộc đời với sự phát triển tâm sinh lý đầy biến động và rất nhanh chóng. Nhiều công trình nghiên cứu khẳng định giai đoạn 5-6 tuổi, trẻ đã định hình nền móng cho tính tình: hiền hay dữ, ích kỷ hay vị tha, chăm chỉ hay lười biếng. Nói như vậy không phải là phủ nhận vai trò của giáo dục mà ngược lại cần phải thấy vai trò to lớn của giáo dục đối với trẻ. Durkheim Emile cho rằng: Giáo dục có mục đích kích thích và phát triển ở trẻ em có được một số trạng thái thể chất, trí tuệ và đạo đức mà cuộc sống xã hội và chuyên nghiệp đòi hỏi; Theo Kant thì: Giáo dục phải phát triển cho mỗi cá nhân tới độ hoàn mỹ cao nhất có thể đạt được.

          Việt Nam chúng ta quan niệm rằng giáo dục hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ như cách nói của Hồ Chủ Tịch: Hiền dữ phải đâu là tính sẵn, Phần nhiều do giáo dục mà nên.

          Để có cơ sở đúng đắn cho việc xác định mục tiêu giáo dục cần phải hiểu về gia tốc phát triển của trẻ em thời nay.Gia tốc phát triển là thuật ngữ chỉ sự phát triển nhanh chóng về sinh lý, tâm lý, trí tuệ của trẻ em đang diễn ra ở nhiều nơi trên trái đất. Vấn đề này đang được các nhà giáo dục, tâm lý, sinh học quan tâm nghiên cứu.

          Sự phát triển sớm về trí tuệ, sự gia tăng khối lượng tri thức ở trẻ ngày nay là biểu hiện gia tốc phát triển tâm sinh lý của các em trên nhiều bình diện năng khiếu, nhu cầu, thị hiếu, hứng thú, thẩm mỹ. Nguyên nhân do trẻ em ngày nay được tiếp nhận một khối lượng rất lớn thông tin biến đổi từng ngày xung quanh chúng (nghe nhìn - phát thanh, truyền hình, báo chí, công nghệ thông tin…). Với những đặc điểm ấy, trẻ có điều kiện tiếp thu nhanh hơn, có điều kiện vận dụng các điều đã học được, đó là những thuận lợi cho giáo dục. Ngược lại đó cũng là những khó khăn cho cha mẹ và các thầy giáo cô giáo vì tầm suy nghĩ của chúng rộng hơn, những câu hỏi hay vấn đề chúng đặt ra phong phú và phức tạp hơn. Trẻ em ngày nay sớm tự ý thức được mình, có nhiều kỳ vọng hơn, “khôn hơn”. Mặc dù vậy, chúng vẫn là trẻ em, vẫn cần phải được giáo dục và định hướng về ý thức xã hội, ý thức công dân, tinh thần trách nhiệm, tính năng động sáng tạo, cách ứng xử giao tiếp, các giá trị văn hóa đạo đức… thông qua các hoạt động thực tiễn, trên lớp học, ngoài giờ học, trong học tập cũng như trong các hoạt động xã hội. 

2. Triết lý giáo dục ở các nước hiện nay

          Để minh chứng cho những quan điểm này, chúng tôi xin được trích dẫn một phần nội dung bài báo: Triết lý giáo dục Mỹ nhìn từ bậc tiểu học của Tiến sĩ Nguyễn Minh Phương (gửi từ Boston, tháng 10/2008, đăng trên báo Tiền Phong cuối tuần số 48):   

         Sứ mạng của trường tiểu học Thompson (thành phố Arlington - Massachusetts - Hoa Kỳ) là tạo cho học sinh mọi cơ hội giáo dục để các em trở thành con người khỏe mạnh, hạnh phúc và là thành viên hữu ích cho xã hội, sứ mạng này được chi tiết hóa như sau:

1. Nhà trường khuyến khích học sinh tìm hiểu và phát hiện thế giới xung quanh tham gia tích cực vào các hoạt động để khai thác mọi tiềm năng của chính mình.

2. Nhà trường cam kết tạo dựng một môi trường lành mạnh có thể phát huy thế mạnh của học sinh, phát triển những kỹ năng, cung cấp những khái niệm cần thiết cho học sinh trở nên sáng tạo trong việc giải quyết những vấn đề hàng ngày trong một thế giới đầy thách thức và đổi thay hàng giờ.

3. Nhà trường có trách nhiệm nuôi dưỡng lòng tự trọng của mỗi học sinh, giáo dục cho các em những giá tr đạo đức như chân thành, nhân hậu, có trách nhiệm, tôn trọng mọi người, và hướng tới những giá tr tốt đẹp. 

       Triết lý này thể hiện ở mọi nơi, mọi chỗ, từ chương trình giảng dạy, phương pháp giảng dạy, cách học của học sinh đến thái độ của giáo viên đối với học sinh, ví dụ: 

       - Ngay từ bậc tiểu học các em đã được rèn luyện kỹ năng đọc và viết có phân tích phê phán (critical reading, critical writing). Bài tập môn tiếng Anh thường có phần “biên tập”: bài tập đưa ra một số lỗi dùng từ, cách hành văn chưa đúng,buộc học sinh tìm các lỗi đó và sửa lại cho đúng.

      - Với “triết lý” khuyến khích học sinh phát huy mọi khả năng sẵn có, khám phá các khả năng tiềm ẩn, không coi học sinh là cái thùng rỗng để chứa đầy kiến thức mà khích lệ các em phát huy các điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu. Học bằng cách đưa ra các hoạt động thiết thực giúp các em học sinh rèn luyện “các kỹ năng của thế kỷ 21”, với mục tiêu là để học sinh tìm kiếm câu trả lời, đưa ra các cách giải quyết vấn đề khi phải đối mặt với một nhiệm vụ nào đó. Khuyến khích các phương pháp “khám phá”, các cách tư duy sáng tạo ở học sinh, gần như loại bỏ phương pháp dạy học theo kiểu “đọc - chép” thụ động như ở nước ta.

          Nhiều người cho rằng học tiểu học như ở Mỹ rất nhẹ nhàng, không căng thẳng, học rất vui mà lại có chất lượng. Trong khi ở Việt Nam mỗi em học tiểu học đã phải đeo chiếc cặp nặng 5 - 6kg, nhiều em phải dùng “xe đẩy”, nhiều trường, trẻ em 7 - 8 tuổi phải học tối ngày, học bán trú đến 5 - 6 giờ chiều, về lại làm bài tập đến khuya, kể cả các ngày thứ bảy, chủ nhật. Trẻ em gần như không được nghỉ hè, phải đi học thêm, học trước đón đầu chương trình năm mới, học để “thi tuyển vào lớp 1”, luyện thi vào chuyên Anh, chuyên Toán... Có lẽ một trong các nguyên nhân quan trọng là ta chưa có một mục tiêu giáo dục thật rõ, hoặc quá tham vọng (nội dung chương trình quá tải và nặng nề), trong khi xã hội và phụ huynh chạy theo các ảo vọng nhiều khi không phù hợp với thực lực của con em mình nên chưa tập trung vào các mục đích cụ thể, vì vậy học sinh học nhiều với một chương trình nội dung quá tải mà không bao giờ đủ.

3. Các cơ sở để xác định mục tiêu giáo dục

Nói “triết lý giáo dục” là quá rộng và khó định hình, theo chúng tôi, xác định rõ mục tiêu giáo dục chính là phần quan trọng nhất của “triết lý giáo dục”. Trong giáo dục, mục tiêu là đích đặt ra mô tả điều mà người học sẽ hiểu được và làm được sau khi học: Mục tiêu là dẫn xuất của mục đích cuối cùng trong giáo dục và mục tiêu chung về đào tạo, chia thành mục tiêu trung gian ở các mức khác nhau, rồi thành mục tiêu đặc thù (Pédagogie: Dictionnaire des con-cepts clés - F.Raynal & A.Rieunier). Có thể hiểu đơn giản mục tiêu giáo dục là: Chúng ta định đưa ra những mẫu người có những kỹ năng và phẩm chất như thế nào trong tương lai?

Các nhà khoa học đã xác định rằng cứ sau 5 - 10 năm kiến thức của loài người lại tăng lên gấp đôi. Trong khi quỹ thời gian của tuổi học đường chỉ có 10 - 12 năm, vậy làm sao mà học sinh có thể tiếp nhận hết được các kiến thức của loài người ngày một tăng lên vô hạn? Nếu theo đà này thì đến năm 2020 hay 2030 chiếc cặp của học sinh tiểu học Việt Nam sẽ tăng lên 15kg hay 20kg? 

Một thực tế đáng buồn là những sinh viên Việt Nam mới ra trường khi làm việc tại các công ty nước ngoài đều phải qua đào tạo lại, điều đó chứng tỏ sinh viên của ta thiếu những kỹ năng để đáp ứng cho nền công nghiệp hiện đại. “Chúng tôi ngạc nhiên, thậm chí ngỡ ngàng vì nhiều sinh viên ra trường không đáp ứng được yêu cầu công việc. Chỉ số ít trong đó được tuyển dụng nhưng doanh nghiệp vẫn phải đào tạo lại”. Chủ tịch Amcham Hà Nội nhận định tại Hội nghị gặp gỡ với đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) ngày 18/5/09 (theo báo Đất Việt). Học sinh Việt Nam đi du học, học lý thuyết thì được nhưng khi thực hành thì thua các bạn nước ngoài, đó là “hệ quả” của nhiều năm tháng học theo kiểu kinh viện, nhiều lý thuyết, ít thực hành.

Vì vậy, muốn xác định được mục tiêu giáo dục thì điều quan trọng nhất là cần hình dung được những đòi hỏi của thực tiễn đối với con người trong giai đoạn tới (ví dụ 20 - 30 năm sau) sẽ như thế nào? Từ những đòi hỏi của thực tiễn, chúng ta hình dung ra những kiến thức và kỹ năng con người cần có để có thể sống và làm việc trong thực tiễn ấy, đặc biệt là cần những kỹ năng trí tuệ và tư duy gì? Cần những phẩm chất nhân cách gì?

            Vậy có thể hình dung các kỹ năng của thế kỷ 21 như thế nào?

      Mọi người nhận thấy, thế kỷ 21 là thế kỷ của công nghệ thông tin và truyền thông, kỷ nguyên của sự hội nhập toàn cầu. Vì thế có thể hình dung các kỹ năng của thế kỷ 21 bao gồm tư duy năng động và sáng tạo, khả năng liên kết và giải quyết vấn đề, đề xuất các ý tưởng độc đáo, các kỹ năng giao tiếp, làm việc trong môi trường đa quốc gia, sử dụng thành thạo vi tính, ngoại ngữ... Những kỹ năng về giải quyết vấn đề hoặc kỹ năng cụ thể về vi tính, truyền thông, công nghệ, giao tiếp... sẽ quan trọng không kém gì các kỹ năng cơ bản là đọc, viết, làm toán.

         Có thể hiểu, tất cả kiến thức và kỹ năng như đã hình dung trên tạo thànhcác kỹ năng trí tuệ (tư duy) của con người trong thế kỷ 21. Đó là các kỹ năng vô cùng cần thiết, đòi hỏi các em học sinh cần có và phải có để sau này bước vào môi trường làm việc trong một không gian năng động toàn cầu. Đó chính là phương tiện và vũ khí chiến lược giúp giới trẻ tồn tại và cạnh tranh hiệu quả trong kỷ nguyên thay đổi không ngừng của thế giới. Nếu các em học sinh được phát triển và rèn rũa các kỹ năng ấy thì sẽ không sợ thất nghiệp và chắc chắn thành công trong đường đời. Tất nhiên, nhà trường chỉ có thể trang bị những kiến thức và các kỹ năng cơ bản nhất như trao cho họ chiếc chìa khóa và muốn thành công họ còn phải sống, làm việc và tiếp tục học suốt đời.

          Sở dĩ có thể nói như trên vì:

          - Học sinh phải được trang bị đủ kiến thức để thi đua giành các cơ hội trong học tập, việc làm, được thừa nhận và trọng đãi trong thế giới ngày nay. Nói đúng hơn là người học sẽ có điều kiện tốt hơn để thành công.    

           - Kỹ năng tư duy tốt sẽ là điều kiện tiên quyết giúp học sinh trở thành những công dân tốt. Khả năng tư duy có phê phán giúp con người tạo nên những quyết định thông minh, có ý thức, suy nghĩ sâu sắc để tìm ra các giải pháp thích hợp đối với những vấn đề của xã hội và cuộc sống đặt ra chứ không cần cái đầu đầy các công thức nhưng vẫn ngơ ngác như gà công nghiệp .    

          - Nếu có khả năng tư duy tốt, người ta sẽ luôn điều chỉnh để có trạng thái tâm lý tốt. Trạng thái tâm lý tốt giúp người ta có được thái độ tích cực đối với cuộc sống, sống nhiệt tình, thiện cảm với người khác. Khi có những bất đồng, người biết suy nghĩ sẽ cảm thấy day dứt hơn, từ đó có tinh thần khắc phục những thiếu sót, lầm lỗi bằng mọi giá.

          - Học sinh trở thành những người có đầu óc tư duy tốt vì lý do tồn tại. Tức là biết phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề. Cuộc sống của chúng ta luôn đối mặt với quá nhiều những vấn đề phức tạp, thách thức, những lạc hậu cản trở tiến bộ, những mối hiểm nguy đe dọa cuộc sống.

          Kiến thức thì mênh mông vô hạn như biển cả, sau một chặng đường học tập có thể nhiều kiến thức hay định lý sẽ quên đi, cái còn lại lâu dài ở trong mỗi con người lại là phương pháp: phương pháp tư duy, phương pháp ứng xử, phương pháp giải quyết vấn đề... điều đó mới là quan trọng cho cuộc đời và nghề nghiệp của con người trong thời đại ngày nay. Xét cho cùng thì thông qua dạy kiến thức và kỹ năng để đạt được mục tiêu hình thành và phát triển năng lực tư duy - trí tuệ của học sinh, tạo được nền móng trí tuệ - cách suy nghĩ để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn sau này cho mỗi học sinh khi bước vào đời.

4. Quan niệm về chuẩn chất lượng cao

          Mới đây, Hà Nội có tổ chức cuộc hội thảo Mô hình cơ sở dch vụ giáo dục trình độ, chất lượng cao. Tuy còn nhiều ý kiến khác nhau và “vừa làm vừa thăm dò chứ chưa đưa ra được một mô hình nào đặc thù” nhưng có ý kiến cho rằng: “Trước hết phải đảm bảo chất lượng của chương trình phổ thông Việt Nam hiện hành, ví dụ nếu chỉ đỗ tốt nghiệp THPT 60 - 70%, tỷ lệ đậu đại học cao đẳng thấp thì dù cơ sở vật chất được trang b thế nào cũng không thể chấp nhận được”. Có ý kiến khác: “Khi đã xác đnh là nhà trường hoạt động theo cơ chế dch vụ giáo dục chất lượng cao thì việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng phải là yếu tố số một”; “Sản phẩm của trường chất lượng cao phải là những học sinh có thói quen và phương pháp học tập độc lập, sáng tạo, có thái độ ứng xử tự tin”; “Một loạt trường nước ngoài được mở tại Việt Nam đang đặt ra không ít thách thức đối với các trường trong nước vì họ sẵn sàng ký hợp đồng với mức lương cao hơn gấp nhiều lần với các giáo viên giỏi và tình trạng “di chuyển chất xám” từ trường trong nước sang trường nước ngoài đóng tại Việt Nam là điều dễ thấy… Nhiều phụ huynh có điều kiện kinh tế có nhu cầu gửi con vào trường chất lượng cao sẽ chọn những trường nước ngoài.” (Báo Thanh Niên ngày 25-12-2008).

          Tất cả các ý kiến trên đều có lý, nhưng chắc chưa trọn vẹn và những nỗi băn khoăn về chất lượng giáo dục nói chung của xã hội đang rất cần có câu trả lời đầy đủ. Vì vậy, một lần nữa chúng ta lại thấy, cần xác định rõ mục tiêu giáo dục của các cấp học để từ đó ngành Giáo dục Đào tạo (các cấp quản lý giáo dục, các thầy giáo cô giáo) và các trường có thể có những giải pháp đưa ra sản phẩm chất lượng cao thực sự mà xã hội và thực tiễn mong đợi.

5. Mục tiêu bậc học phổ thông hiện nay ở Việt Nam

          Trong một bài báo ngắn, bàn về các cơ sở để xác định mục tiêu giáo dục, chúng tôi chỉ xin mạnh dạn nêu quan điểm của mình về mục tiêu chung của giáo dục phổ thông, còn để đạt được mục tiêu đó phải xác định các mục tiêu trung gian rồi thành mục tiêu đặc thù ở các mức khác nhau.

          Theo chúng tôi: Mục tiêu của bậc học phổ thông ngày nay là hình thành và phát triển được nền tảng tư duy của con người trong thời đại mới,bao gồm:

          -Nhóm những kiến thức và kỹ năng cơ bản (đọc, viết, tính toán, những kiến thức cơ bản của các môn học phổ thông).

          - Nhóm các kỹ năng tư duy (biết cách suy luận, phát hiện, giải quyết vấn đề, biết cách học, cách tự học, có tư duy sáng tạo).

          - Nhóm các phẩm chất nhân cách và đạo đức (có lòng tự tin, có ý thức và tinh thần

trách nhiệm, trung thực, biết tự quản lý và làm chủ được bản thân, có đời sống nội tâm phong phú và nhân cách cao đẹp).

          Tất nhiên, để thế hệ trẻ có được các kỹ năng và đạt được các mục tiêu trên còn tùy thuộc nhiều vào các thành tố khác như: Sự đầu tư thực sự cho giáo dục, xác định đúng nội dung chương trình, đào tạo đội ngũ giáo viên, vận dụng các phương pháp giảng dạy tiên tiến, các quan điểm về đánh giá thi cử, cơ sở hạ tầng của ngành giáo dục, trình độ và năng lực quản lý giáo dục. Tất cả các thành tố đó đều cần được quan tâm giải quyết thỏa đáng

(Source: Lê Hải Yến - Trường ĐHSP Hà Nội, Bản tin GDTX&TC số 22, tháng 9/2009 )
Read on >>
  
  

Read on >>
  
  
  
  
  
  
  
  
  
  
CÁC CƠ SỞ ĐỂ XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU GIÁO DỤC HIỆN NAY
Trước đây, ở Việt Nam, khẩu hiệu của giáo dục, đào tạo là: Đào tạo ra những con người vừa hồng vừa chuyên, hoặc: Đào tạo ra những con người có đủ tài đức, hoặc: Mục tiêu giáo dục bao gồm các mặt đức, trí, thể, mỹ, lao động...


Trước đây, ở Việt Nam, khẩu hiệu của giáo dục, đào tạo là: Đào tạo ra những con người vừa hồng vừa chuyên, hoặc: Đào tạo ra những con người có đủ tài đức, hoặc: Mục tiêu giáo dục bao gồm các mặt đức, trí, thể, mỹ, lao động... Mới đây,điều 27 Luật Giáo dục (2005) ghi rõ: 1. Mục tiêu của Giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản. 2. Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở và các cấp học trên. Song, nếu hỏi các nhà quản lý giáo dục và các giáo viên hiểu và giải thích về mục tiêu trên như thế nào, đặc biệt nếu hỏi về các kỹ năng, kiến thức và tư duy trí tuệ học sinh cần phải đạt được là gì thì chắc sẽ có rất nhiều cách hiểu và giải thích khác nhau.

          Xác định rõ mục tiêu giáo dục là một điều rất quan trọng và cần thiết vì nó định hướng chiến lược đầu tư giáo dục, xây dựng nội dung chương trình, chọn lọc nội dung, xác định và chi phối toàn bộ công tác quản lý, điều hành các bậc học và toàn bộ phương pháp dạy và học. Ví dụ, nếu như mục tiêu của nhà trường đặt ra là học sinh phải đạt điểm cao và đạt được bằng cấp thì chỉ cần dạy theo kiểu đọc chép, học thuộc lòng, hoặc cho học sinh đến các lớp chuyên luyện thi để nhồi thật nhiều “tủ” nhằm nâng cao điểm số và tìm mọi cách để có được tấm bằng, như thế là hoàn thành mục tiêu đào tạo.Có lẽ việc xác định mục tiêu sai hoặc quá chung chung là nguyên nhân của mọi nguyên nhân sinh ra các căn bệnh trầm kha của giáo dục. Vậy, việc xác đinh mục tiêu giáo dục ngày nay dựa trên những cơ sở nào? Sau đây chúng tôi sẽ phân tích một số cơ sở chủ yếu:

1. Các quan niệm về trẻ em thời đại ngày nay

          Tuổi thơ là giai đoạn quan trọng của cuộc đời với sự phát triển tâm sinh lý đầy biến động và rất nhanh chóng. Nhiều công trình nghiên cứu khẳng định giai đoạn 5-6 tuổi, trẻ đã định hình nền móng cho tính tình: hiền hay dữ, ích kỷ hay vị tha, chăm chỉ hay lười biếng. Nói như vậy không phải là phủ nhận vai trò của giáo dục mà ngược lại cần phải thấy vai trò to lớn của giáo dục đối với trẻ. Durkheim Emile cho rằng: Giáo dục có mục đích kích thích và phát triển ở trẻ em có được một số trạng thái thể chất, trí tuệ và đạo đức mà cuộc sống xã hội và chuyên nghiệp đòi hỏi; Theo Kant thì: Giáo dục phải phát triển cho mỗi cá nhân tới độ hoàn mỹ cao nhất có thể đạt được.

          Việt Nam chúng ta quan niệm rằng giáo dục hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ như cách nói của Hồ Chủ Tịch: Hiền dữ phải đâu là tính sẵn, Phần nhiều do giáo dục mà nên.

          Để có cơ sở đúng đắn cho việc xác định mục tiêu giáo dục cần phải hiểu về gia tốc phát triển của trẻ em thời nay.Gia tốc phát triển là thuật ngữ chỉ sự phát triển nhanh chóng về sinh lý, tâm lý, trí tuệ của trẻ em đang diễn ra ở nhiều nơi trên trái đất. Vấn đề này đang được các nhà giáo dục, tâm lý, sinh học quan tâm nghiên cứu.

          Sự phát triển sớm về trí tuệ, sự gia tăng khối lượng tri thức ở trẻ ngày nay là biểu hiện gia tốc phát triển tâm sinh lý của các em trên nhiều bình diện năng khiếu, nhu cầu, thị hiếu, hứng thú, thẩm mỹ. Nguyên nhân do trẻ em ngày nay được tiếp nhận một khối lượng rất lớn thông tin biến đổi từng ngày xung quanh chúng (nghe nhìn - phát thanh, truyền hình, báo chí, công nghệ thông tin…). Với những đặc điểm ấy, trẻ có điều kiện tiếp thu nhanh hơn, có điều kiện vận dụng các điều đã học được, đó là những thuận lợi cho giáo dục. Ngược lại đó cũng là những khó khăn cho cha mẹ và các thầy giáo cô giáo vì tầm suy nghĩ của chúng rộng hơn, những câu hỏi hay vấn đề chúng đặt ra phong phú và phức tạp hơn. Trẻ em ngày nay sớm tự ý thức được mình, có nhiều kỳ vọng hơn, “khôn hơn”. Mặc dù vậy, chúng vẫn là trẻ em, vẫn cần phải được giáo dục và định hướng về ý thức xã hội, ý thức công dân, tinh thần trách nhiệm, tính năng động sáng tạo, cách ứng xử giao tiếp, các giá trị văn hóa đạo đức… thông qua các hoạt động thực tiễn, trên lớp học, ngoài giờ học, trong học tập cũng như trong các hoạt động xã hội. 

2. Triết lý giáo dục ở các nước hiện nay

          Để minh chứng cho những quan điểm này, chúng tôi xin được trích dẫn một phần nội dung bài báo: Triết lý giáo dục Mỹ nhìn từ bậc tiểu học của Tiến sĩ Nguyễn Minh Phương (gửi từ Boston, tháng 10/2008, đăng trên báo Tiền Phong cuối tuần số 48):   

         Sứ mạng của trường tiểu học Thompson (thành phố Arlington - Massachusetts - Hoa Kỳ) là tạo cho học sinh mọi cơ hội giáo dục để các em trở thành con người khỏe mạnh, hạnh phúc và là thành viên hữu ích cho xã hội, sứ mạng này được chi tiết hóa như sau:

1. Nhà trường khuyến khích học sinh tìm hiểu và phát hiện thế giới xung quanh tham gia tích cực vào các hoạt động để khai thác mọi tiềm năng của chính mình.

2. Nhà trường cam kết tạo dựng một môi trường lành mạnh có thể phát huy thế mạnh của học sinh, phát triển những kỹ năng, cung cấp những khái niệm cần thiết cho học sinh trở nên sáng tạo trong việc giải quyết những vấn đề hàng ngày trong một thế giới đầy thách thức và đổi thay hàng giờ.

3. Nhà trường có trách nhiệm nuôi dưỡng lòng tự trọng của mỗi học sinh, giáo dục cho các em những giá tr đạo đức như chân thành, nhân hậu, có trách nhiệm, tôn trọng mọi người, và hướng tới những giá tr tốt đẹp. 

       Triết lý này thể hiện ở mọi nơi, mọi chỗ, từ chương trình giảng dạy, phương pháp giảng dạy, cách học của học sinh đến thái độ của giáo viên đối với học sinh, ví dụ: 

       - Ngay từ bậc tiểu học các em đã được rèn luyện kỹ năng đọc và viết có phân tích phê phán (critical reading, critical writing). Bài tập môn tiếng Anh thường có phần “biên tập”: bài tập đưa ra một số lỗi dùng từ, cách hành văn chưa đúng,buộc học sinh tìm các lỗi đó và sửa lại cho đúng.

      - Với “triết lý” khuyến khích học sinh phát huy mọi khả năng sẵn có, khám phá các khả năng tiềm ẩn, không coi học sinh là cái thùng rỗng để chứa đầy kiến thức mà khích lệ các em phát huy các điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu. Học bằng cách đưa ra các hoạt động thiết thực giúp các em học sinh rèn luyện “các kỹ năng của thế kỷ 21”, với mục tiêu là để học sinh tìm kiếm câu trả lời, đưa ra các cách giải quyết vấn đề khi phải đối mặt với một nhiệm vụ nào đó. Khuyến khích các phương pháp “khám phá”, các cách tư duy sáng tạo ở học sinh, gần như loại bỏ phương pháp dạy học theo kiểu “đọc - chép” thụ động như ở nước ta.

          Nhiều người cho rằng học tiểu học như ở Mỹ rất nhẹ nhàng, không căng thẳng, học rất vui mà lại có chất lượng. Trong khi ở Việt Nam mỗi em học tiểu học đã phải đeo chiếc cặp nặng 5 - 6kg, nhiều em phải dùng “xe đẩy”, nhiều trường, trẻ em 7 - 8 tuổi phải học tối ngày, học bán trú đến 5 - 6 giờ chiều, về lại làm bài tập đến khuya, kể cả các ngày thứ bảy, chủ nhật. Trẻ em gần như không được nghỉ hè, phải đi học thêm, học trước đón đầu chương trình năm mới, học để “thi tuyển vào lớp 1”, luyện thi vào chuyên Anh, chuyên Toán... Có lẽ một trong các nguyên nhân quan trọng là ta chưa có một mục tiêu giáo dục thật rõ, hoặc quá tham vọng (nội dung chương trình quá tải và nặng nề), trong khi xã hội và phụ huynh chạy theo các ảo vọng nhiều khi không phù hợp với thực lực của con em mình nên chưa tập trung vào các mục đích cụ thể, vì vậy học sinh học nhiều với một chương trình nội dung quá tải mà không bao giờ đủ.

3. Các cơ sở để xác định mục tiêu giáo dục

Nói “triết lý giáo dục” là quá rộng và khó định hình, theo chúng tôi, xác định rõ mục tiêu giáo dục chính là phần quan trọng nhất của “triết lý giáo dục”. Trong giáo dục, mục tiêu là đích đặt ra mô tả điều mà người học sẽ hiểu được và làm được sau khi học: Mục tiêu là dẫn xuất của mục đích cuối cùng trong giáo dục và mục tiêu chung về đào tạo, chia thành mục tiêu trung gian ở các mức khác nhau, rồi thành mục tiêu đặc thù (Pédagogie: Dictionnaire des con-cepts clés - F.Raynal & A.Rieunier). Có thể hiểu đơn giản mục tiêu giáo dục là: Chúng ta định đưa ra những mẫu người có những kỹ năng và phẩm chất như thế nào trong tương lai?

Các nhà khoa học đã xác định rằng cứ sau 5 - 10 năm kiến thức của loài người lại tăng lên gấp đôi. Trong khi quỹ thời gian của tuổi học đường chỉ có 10 - 12 năm, vậy làm sao mà học sinh có thể tiếp nhận hết được các kiến thức của loài người ngày một tăng lên vô hạn? Nếu theo đà này thì đến năm 2020 hay 2030 chiếc cặp của học sinh tiểu học Việt Nam sẽ tăng lên 15kg hay 20kg? 

Một thực tế đáng buồn là những sinh viên Việt Nam mới ra trường khi làm việc tại các công ty nước ngoài đều phải qua đào tạo lại, điều đó chứng tỏ sinh viên của ta thiếu những kỹ năng để đáp ứng cho nền công nghiệp hiện đại. “Chúng tôi ngạc nhiên, thậm chí ngỡ ngàng vì nhiều sinh viên ra trường không đáp ứng được yêu cầu công việc. Chỉ số ít trong đó được tuyển dụng nhưng doanh nghiệp vẫn phải đào tạo lại”. Chủ tịch Amcham Hà Nội nhận định tại Hội nghị gặp gỡ với đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) ngày 18/5/09 (theo báo Đất Việt). Học sinh Việt Nam đi du học, học lý thuyết thì được nhưng khi thực hành thì thua các bạn nước ngoài, đó là “hệ quả” của nhiều năm tháng học theo kiểu kinh viện, nhiều lý thuyết, ít thực hành.

Vì vậy, muốn xác định được mục tiêu giáo dục thì điều quan trọng nhất là cần hình dung được những đòi hỏi của thực tiễn đối với con người trong giai đoạn tới (ví dụ 20 - 30 năm sau) sẽ như thế nào? Từ những đòi hỏi của thực tiễn, chúng ta hình dung ra những kiến thức và kỹ năng con người cần có để có thể sống và làm việc trong thực tiễn ấy, đặc biệt là cần những kỹ năng trí tuệ và tư duy gì? Cần những phẩm chất nhân cách gì?

            Vậy có thể hình dung các kỹ năng của thế kỷ 21 như thế nào?

      Mọi người nhận thấy, thế kỷ 21 là thế kỷ của công nghệ thông tin và truyền thông, kỷ nguyên của sự hội nhập toàn cầu. Vì thế có thể hình dung các kỹ năng của thế kỷ 21 bao gồm tư duy năng động và sáng tạo, khả năng liên kết và giải quyết vấn đề, đề xuất các ý tưởng độc đáo, các kỹ năng giao tiếp, làm việc trong môi trường đa quốc gia, sử dụng thành thạo vi tính, ngoại ngữ... Những kỹ năng về giải quyết vấn đề hoặc kỹ năng cụ thể về vi tính, truyền thông, công nghệ, giao tiếp... sẽ quan trọng không kém gì các kỹ năng cơ bản là đọc, viết, làm toán.

         Có thể hiểu, tất cả kiến thức và kỹ năng như đã hình dung trên tạo thànhcác kỹ năng trí tuệ (tư duy) của con người trong thế kỷ 21. Đó là các kỹ năng vô cùng cần thiết, đòi hỏi các em học sinh cần có và phải có để sau này bước vào môi trường làm việc trong một không gian năng động toàn cầu. Đó chính là phương tiện và vũ khí chiến lược giúp giới trẻ tồn tại và cạnh tranh hiệu quả trong kỷ nguyên thay đổi không ngừng của thế giới. Nếu các em học sinh được phát triển và rèn rũa các kỹ năng ấy thì sẽ không sợ thất nghiệp và chắc chắn thành công trong đường đời. Tất nhiên, nhà trường chỉ có thể trang bị những kiến thức và các kỹ năng cơ bản nhất như trao cho họ chiếc chìa khóa và muốn thành công họ còn phải sống, làm việc và tiếp tục học suốt đời.

          Sở dĩ có thể nói như trên vì:

          - Học sinh phải được trang bị đủ kiến thức để thi đua giành các cơ hội trong học tập, việc làm, được thừa nhận và trọng đãi trong thế giới ngày nay. Nói đúng hơn là người học sẽ có điều kiện tốt hơn để thành công.    

           - Kỹ năng tư duy tốt sẽ là điều kiện tiên quyết giúp học sinh trở thành những công dân tốt. Khả năng tư duy có phê phán giúp con người tạo nên những quyết định thông minh, có ý thức, suy nghĩ sâu sắc để tìm ra các giải pháp thích hợp đối với những vấn đề của xã hội và cuộc sống đặt ra chứ không cần cái đầu đầy các công thức nhưng vẫn ngơ ngác như gà công nghiệp .    

          - Nếu có khả năng tư duy tốt, người ta sẽ luôn điều chỉnh để có trạng thái tâm lý tốt. Trạng thái tâm lý tốt giúp người ta có được thái độ tích cực đối với cuộc sống, sống nhiệt tình, thiện cảm với người khác. Khi có những bất đồng, người biết suy nghĩ sẽ cảm thấy day dứt hơn, từ đó có tinh thần khắc phục những thiếu sót, lầm lỗi bằng mọi giá.

          - Học sinh trở thành những người có đầu óc tư duy tốt vì lý do tồn tại. Tức là biết phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề. Cuộc sống của chúng ta luôn đối mặt với quá nhiều những vấn đề phức tạp, thách thức, những lạc hậu cản trở tiến bộ, những mối hiểm nguy đe dọa cuộc sống.

          Kiến thức thì mênh mông vô hạn như biển cả, sau một chặng đường học tập có thể nhiều kiến thức hay định lý sẽ quên đi, cái còn lại lâu dài ở trong mỗi con người lại là phương pháp: phương pháp tư duy, phương pháp ứng xử, phương pháp giải quyết vấn đề... điều đó mới là quan trọng cho cuộc đời và nghề nghiệp của con người trong thời đại ngày nay. Xét cho cùng thì thông qua dạy kiến thức và kỹ năng để đạt được mục tiêu hình thành và phát triển năng lực tư duy - trí tuệ của học sinh, tạo được nền móng trí tuệ - cách suy nghĩ để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn sau này cho mỗi học sinh khi bước vào đời.

4. Quan niệm về chuẩn chất lượng cao

          Mới đây, Hà Nội có tổ chức cuộc hội thảo Mô hình cơ sở dch vụ giáo dục trình độ, chất lượng cao. Tuy còn nhiều ý kiến khác nhau và “vừa làm vừa thăm dò chứ chưa đưa ra được một mô hình nào đặc thù” nhưng có ý kiến cho rằng: “Trước hết phải đảm bảo chất lượng của chương trình phổ thông Việt Nam hiện hành, ví dụ nếu chỉ đỗ tốt nghiệp THPT 60 - 70%, tỷ lệ đậu đại học cao đẳng thấp thì dù cơ sở vật chất được trang b thế nào cũng không thể chấp nhận được”. Có ý kiến khác: “Khi đã xác đnh là nhà trường hoạt động theo cơ chế dch vụ giáo dục chất lượng cao thì việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng phải là yếu tố số một”; “Sản phẩm của trường chất lượng cao phải là những học sinh có thói quen và phương pháp học tập độc lập, sáng tạo, có thái độ ứng xử tự tin”; “Một loạt trường nước ngoài được mở tại Việt Nam đang đặt ra không ít thách thức đối với các trường trong nước vì họ sẵn sàng ký hợp đồng với mức lương cao hơn gấp nhiều lần với các giáo viên giỏi và tình trạng “di chuyển chất xám” từ trường trong nước sang trường nước ngoài đóng tại Việt Nam là điều dễ thấy… Nhiều phụ huynh có điều kiện kinh tế có nhu cầu gửi con vào trường chất lượng cao sẽ chọn những trường nước ngoài.” (Báo Thanh Niên ngày 25-12-2008).

          Tất cả các ý kiến trên đều có lý, nhưng chắc chưa trọn vẹn và những nỗi băn khoăn về chất lượng giáo dục nói chung của xã hội đang rất cần có câu trả lời đầy đủ. Vì vậy, một lần nữa chúng ta lại thấy, cần xác định rõ mục tiêu giáo dục của các cấp học để từ đó ngành Giáo dục Đào tạo (các cấp quản lý giáo dục, các thầy giáo cô giáo) và các trường có thể có những giải pháp đưa ra sản phẩm chất lượng cao thực sự mà xã hội và thực tiễn mong đợi.

5. Mục tiêu bậc học phổ thông hiện nay ở Việt Nam

          Trong một bài báo ngắn, bàn về các cơ sở để xác định mục tiêu giáo dục, chúng tôi chỉ xin mạnh dạn nêu quan điểm của mình về mục tiêu chung của giáo dục phổ thông, còn để đạt được mục tiêu đó phải xác định các mục tiêu trung gian rồi thành mục tiêu đặc thù ở các mức khác nhau.

          Theo chúng tôi: Mục tiêu của bậc học phổ thông ngày nay là hình thành và phát triển được nền tảng tư duy của con người trong thời đại mới,bao gồm:

          -Nhóm những kiến thức và kỹ năng cơ bản (đọc, viết, tính toán, những kiến thức cơ bản của các môn học phổ thông).

          - Nhóm các kỹ năng tư duy (biết cách suy luận, phát hiện, giải quyết vấn đề, biết cách học, cách tự học, có tư duy sáng tạo).

          - Nhóm các phẩm chất nhân cách và đạo đức (có lòng tự tin, có ý thức và tinh thần

trách nhiệm, trung thực, biết tự quản lý và làm chủ được bản thân, có đời sống nội tâm phong phú và nhân cách cao đẹp).

          Tất nhiên, để thế hệ trẻ có được các kỹ năng và đạt được các mục tiêu trên còn tùy thuộc nhiều vào các thành tố khác như: Sự đầu tư thực sự cho giáo dục, xác định đúng nội dung chương trình, đào tạo đội ngũ giáo viên, vận dụng các phương pháp giảng dạy tiên tiến, các quan điểm về đánh giá thi cử, cơ sở hạ tầng của ngành giáo dục, trình độ và năng lực quản lý giáo dục. Tất cả các thành tố đó đều cần được quan tâm giải quyết thỏa đáng

(Source: Lê Hải Yến - Trường ĐHSP Hà Nội, Bản tin GDTX&TC số 22, tháng 9/2009 )
Read on >>
  
  
  
  
  

Read on >>
  
  
  
  
  
Đc: Tầng 6 Nhà Hành chính Hiệu bộ - Trường đại học Sư phạm Hà Nội
136 Xuân Thủy - Cầu Giấy - HN