Không hiểu sao mấy năm gần đây cứ đến ngày mùng một tết là tôi lại lăn ra ốm. Hình như làm lụng vất vả cả năm, nắng mưa thấm vào từng chân tơ kẽ tóc, đợi đến những ngày mà tôi cho là “sống chậm” bệnh tật mới được dịp hành hạ. Nằm trong nhà, lắng nghe từng thanh âm những ngày đầu năm gõ nhịp trong tim, ấu thơ lại ùa về, lòng dâng lên những nỗi nhớ vừa nôn nao vừa dịu ngọt. Nỗi nhớ bắt đầu từ cánh đồng. Quê tôi đi vài bước đã gặp núi, ngoảnh lại sau lưng là ngan ngát đồng ruộng. Cánh đồng chính là “đứa con của phù sa” và tôi may mắn được sinh ra trên đồng quê sau mùa gặt hái. “Mùa đông nào mẹ sinh con cơ cực / Đất đồng chiêm trơ gốc rạ nhọc nhằn”, tôi đã viết về ngày sinh của mình như thế. Bởi vậy, cả tuổi thơ, tôi thích lặn ngụp trên sông và lang thang trên đồng mò cá, vạt tép, bắt cua, mót lúa. Dường như mọi hoạt động của con trẻ đều diễn ra trên đồng và gắn với ruộng đồng. Với tôi, khi ấy, thế giới chỉ là một vòm trời nhỏ. Tôi đứng lặng nhìn mãi về phía đường chân trời, thả trôi theo những ước vọng tuổi thơ và thảng thốt quay về khi mưa nguồn chớp bể. Như cánh chim mới tập bay, tôi vừa khao khát vừa sợ hãi trước chân trời mới lạ. Lớn lên, tôi được bàn chân đưa đi xa hơn, trong không gian thực tế cũng như trong tâm tưởng. Trên suốt hành trình dằng dặc ấy, lúc mỏi mệt, tuyệt vọng nhất giấc mơ lại đưa tôi về với những cánh đồng. Vô thức hình như cũng có cái lý của nó. Vượt qua bao chồng chất khó khăn, tôi không gục ngã có lẽ một phần nhờ sự tiếp sức của nỗi nhớ đồng vọng. Cánh đồng của tôi là những đêm trăng vằng vặc, hoa dại trắng li ti rải khắp bờ đê. Chiếc hôn đầu đời run rẩy, nhìn vào mắt bạn gái thấy lấp lánh sao trời. Cánh đồng của tôi là những ráng chiều đỏ bầm, trong mọi khổ đau mất mát, tôi như nghe thấy từ trong sâu thẳm lời vỗ về của cánh đồng. Trên cánh đồng, trên những dấu chân của mình, tôi khao khát được gieo cho mình những hạt mầm vạn dặm. Cánh đồng của tôi là ban mai, trở về sau một vòng tiều tụy, tôi muốn quỳ trước điệp trùng sương mai, thấm đẫm bao nhiêu mồ hôi nhọc nhằn của đấng sinh thành. Cánh đồng của tôi còn lưu giữ những vết thương khô một thời hoang hoải. Đó là những thửa đất bạc màu cháy lên loang lổ giữa những ngày hè khô hạn. Nhọc nhằn rồi cũng qua đi dù vết tích mãi còn. Vì thế cánh đồng đã giữ cho riêng tôi sự trong trẻo mặc bao nắng táp mưa sa. Tôi có một cánh đồng tuổi thơ để yêu thương sâu lắng như mẹ, như cha, như làng quê yêu dấu. Cánh đồng gắn với biết bao số phận lầm lũi. Người có tâm thì học được sự nhẫn nhục, lòng bao dung phóng khoáng. Kẻ giả nhân chỉ gặt hái toàn sâu bọ. Còn tôi học được từ cánh đồng những lời thì thầm nhắn nhủ để gắng trả cho đời những hoa lành, trái ngọt. Một thời đi xa “Bước chân dấp dính bờ đê hôm nào” rồi lại trở về trong một chiều mỏi gối để bất giác nhận ra: “Vũ khúc ngày thường nắng dội mưa chan/ Mà tiết tấu là bước chân dẻo dai trên cánh đồng vất vả/ Mà trong lời ru vẫn cánh cò bay lả/ Khổ lắm thương nhiều nên câu hát đằm sâu”. Dù cồn bãi hóa nương dâu, dù hồn vía làng quê có ít nhiều thay đổi, trong tôi vẫn có một cánh đồng. Cánh đồng ấy vẫn biếc xanh màu lá, vẫn mãi nhắc nhủ kẻ tha hương không quên quê hương nguồn cội dù có đi góc bể chân trời.
Ngoài hiên vẫn rí rách mưa phùn. Tôi mở òa cửa sổ, nghe gió run rẩy trong giá buốt, những viền lá chạm vào nhau khẽ khàng, rụt rè, tê dại như lần đầu tiên người ta chạm môi nhau. Giống như có người bịt mắt, tôi cảm nhận được hơi thở phập phồng, nóng bừng sau gáy, ngửi được mùi dầu gió trên tay, cảm nhận được khuôn mặt ai đó đã xa lăng lắc từ thuở nào. Tôi lại thấy khói, những sợi khói ban đầu thì mảnh, khẽ khàng, dùng dằng, sau cuộn lên da diết. Lên cao, gió khuấy loãng, khói chỉ còn những gợn xanh xao. Tôi nhìn thấy khói qua kí ức, thấy những nhà, những làng chênh chao trong khói. Cả ngọn gió cũng xốn xang chìm lãng đãng dưới sương mù. Phải rất dịu dàng mới bắt được khói ấy, gió ấy. Rồi bồng bềnh, phiêu diêu trong những hồi ức, những ý nghĩ mênh mang, vu vơ không ra đầu ra cuối, đang nhớ người này sực nhớ người kia, đang nghĩ tới màu tím của bông hoa sim trên triền núi sau nhà thì cái vệt xanh của ngọn cỏ đã lướt qua, kéo theo những bông lau già bạc phơ phất. Rồi mùi cỏ ngai ngái, gió đồng đêm trong trẻo, mát lành, lá vàng hát khúc ca về nguồn cội. Thấy một mình trôi đi, thấy mọi thứ cùng lung linh với mình, đẹp mà lạ, như mới gặp lần đầu, ngọt lành, mộng mị. Sông dường như cũng thường trôi như vậy. Con sông tuổi ấu thơ tôi thường lặn ngụp cho đến lúc sững sờ nhận ra vẻ đẹp vĩnh hằng của nó. Đó là vẻ đẹp của sự bình dị, an nhiên, tự tại. Hai bên bờ sông, rặng nhãn chảy tràn, dải màu xanh ngắt, da diết lên chân trời thi thoảng bị ngắt quãng bởi một thửa ruộng chạy ngang, bởi những chiếc vó nhỏ có đám trẻ con tòn ten đánh đu cất lên những mẻ cá đẫm sao khuya, vài cây gạo treo những chùm hoa đỏ rực. Gần bờ, những bông hoa súng tím ngắt nở bừng trên mặt nước rập rờn. Cái dòng chảy trong lẻo rất khẽ khàng, dịu dàng chở sắc tím của hoa đi mải miết. Dường như tôi không thể mang hết, không thể thu gom hết vẻ đẹp mênh mang, sâu thẳm của dòng sông theo mình, nên vẫn còn để lại đâu đó trong tiềm thức, chỉ những khi ngồi buồn, nghĩ thật chậm, nhớ thật chậm kí ức sông quê mới trở lại cồn cào. Hẳn vì thế nên khi làm cuốn phim quay Lễ mừng thọ bố mẹ xuân này, tôi muốn thu hết vào ống kính vẻ đẹp của dòng sông quê. Trong cuốn phim ấy, cạnh con sông làng là hình ảnh tôi đang suy tư về xóm mạc, ruộng vườn với ánh nhìn đăm đắm. Đó là những hoài niệm vừa rưng rức buồn vừa thanh thản nhẹ nhõm, an nhiên. Chính những kí ức đó đã làm cho tâm hồn trở nên giàu có. Những câu thơ cũ bất giác chợt ùa về “Cười mình trên chiếu rách / Vẫn mơ đồng cỏ xanh / Những chùm hoa mong manh / Và những bầy ngựa trắng / Em dịu dàng im lặng / Trách gì em chóng quên / Cửa gió lùa miên man / Bức sơn dầu bụi phủ / Giã từ năm tháng cũ / Ngày mai hoa nói gì / Chỉ một mình tôi đi / Cỏ xanh và nắng lạ / Tình yêu và nỗi khổ / Tôi nhận phần đắng cay / Như một cây nến gầy / Đốt cho mình ánh sáng / Đầu năm chiều rét lạnh / Tôi buồn, em ở đâu?”. Mỗi khi nhớ về làng quê cũ, trong lòng tôi lại hiện lên những hình ảnh giản dị, những gương mặt người, những nóc nhà thưa, những cây cầu lắt lẻo cùng viền núi xanh đậm bao quanh. Một con đường khấp khểnh băng qua xóm, bên lối đi lau sậy chập chờn. Và cả đình làng nơi diễn ra những chiếu chèo với nỗi xao xuyến không nguôi của đám trẻ con nghèo khi những rạ rơm, ao chuôm đã tạm khép lại cùng ánh sáng mặt trời. Chỉ còn đêm dài lắm. Nhiều lúc nhìn mưa sụt sùi, nhớ đêm nào đó của tuổi thơ xa lắc, cũng mưa như thế này, cũng đường làng trơn nhão như thế này, tôi ôm cái chân lên mụn bọc to tướng đi xem phim ở làng cách nhà mấy cây số. Lội bộ đường xa giữa đêm mưa gió, mò mẫm trong màu trời nhập nhoạng mà hớn hở như đi xem hội. Tôi dán mắt vào cái ánh sáng trắng lung linh huyền ảo trên màn hình mà tưởng như mình đang phiêu du trong thế giới cổ tích, để rồi òa khóc trước cảnh chị Vân bị kẻ địch châm đốt mười đầu ngón tay trong phim “Nổi gió”. Đường về xa lơ xa lắc, cứ qua mỗi ánh đèn là vắng đi đôi bước chân. Rồi chỉ còn một mình trên đường lê đôi chân sưng tấy, qua những lùm tre hình thù kì dị, tưởng tượng ra bao nhiêu chuyện ma quái mà toát mồ hôi. Đêm về chập chờn nóng sốt, trong cơn mơ vẫn thấy xao xuyến tưởng như thế giới cổ tích trong phim ảnh vẫn còn dư vị ngọt ngào. Vậy là chiều hôm sau lại lặn lội, nao nức đi đặt gạch nhận chỗ nơi sân đình chuẩn bị cho buổi chiếu tiếp theo. Con đường xóm lông chông đá, lổn nhổn ổ gà và những bãi phân trâu, bao nhiêu năm qua với tôi vẫn là con đường lãng mạn nhất. Nó đưa đón những bàn chân tần tảo, nó chứng kiến những tấm lòng thơm thảo. Thi thoảng tôi vẫn để nỗi nhớ dắt tay về những chỗ ngồi yêu thích ngày xưa, khi thì vắt vẻo trên lưng trâu khi thì lênh khênh trên ngọn cây gáo trước nhà. Ở đó, tôi vẫn thấy có cô bé hàng xóm bưng đĩa bánh rán đang đi dưới mưa lất phất, tay cầm cái nón nhỏ lóng ngóng, che đầu thì sợ bánh ướt, che bánh thì sợ ướt đầu. Ở đó, tôi thấy chị gái mình, lúp xúp đội thúng chè đi chợ sớm mai, nhận biết được từng người quen trong xóm, qua nón, qua áo, qua cái dáng đi cắm cúi, xấp ngửa, tất tả. Họ chính là linh hồn của kí ức xóm làng. Sau này đi xa, đó đây, đôi khi gặp lại vài khung cảnh giống như xóm của mình, nhưng xúc động thì chỉ thoáng qua bởi không có những gương mặt, những dáng đi lầm lụi cũ. Bây giờ xóm cũ vẫn còn, nhà tôi vẫn ở nguyên chỗ cũ, chỉ những người ngày xưa đã khác. Người đã dời làng đi nơi khác. Người vẫn ở đó nhưng không phải là người của những năm xưa. Đôi lúc trên đường về, qua những ngôi nhà sơn loang lổ, qua những cãi cọ đôi co từng tấc đất, qua những bon chen háy nguýt, bỗng nghĩ nơi đây từng có những người đàn bà, lúc xay bột làm bánh đã không quên rắc thêm mấy hạt vừng để thơm thảo với láng giềng. Bây giờ họ đã về đâu?.
Thế mới càng thấy quý hơn, trân trọng hơn những lá thư của tôi gửi chị gái từ gần ba chục năm trước vẫn được chị cất gói kĩ càng, tết về lại giở ra xem. Những lá thư giấy đã cũ nhàu, vàng ố với nét chữ học trò run run mà gói ghém trong đó bao niềm yêu thương dồn tụ và cả khát vọng học hành thành đạt. Thấy thương mình của mấy chục năm về trước, mơ ước được đi trên một chuyến tàu ra tỉnh chỉ để biết thế nào là tàu hỏa. Kí ức vẫn đứng im, trong khi tôi cùng thời gian đi qua quá nửa đời người, mới hiểu bến bờ là một cái gì đó thật tình cờ, giản dị. Như bến bờ của mình chẳng hạn. Một cây hoa khẽ khàng nở trên sân thượng. Một cao nguyên biền biệt đá, người sống trên đá, chết trên đá, cây cỏ mọc trên đá. Một vùng cát trắng khô cằn, những đàn bò gầy quắt mỏi mê tìm cỏ dưới nắng rát bỏng. Một cái cười lỏn lẻn ngây thơ trong như suối nước của con trai. Một nụ cười móm mém hồn hậu của cha mẹ già trong ngày mừng thọ. Một bức thư cũ kĩ gần ba mươi năm về trước... Tất cả làm thành bến bờ cho những nỗi buồn của tôi neo đậu, găm vào đó và lặn trong tít tắp mù khơi. Tôi lại rưng rưng biết ơn chúng, có chúng nên qua những cơn bão buồn của cuộc sống tôi vẫn an nhiên đứng dậy và bước tới.
Lao xao ngoài đầu ngõ, tiếng người đi chúc tết. Hình như càng nhiều tuổi, người ta càng ngại tết. Cái náo nức đón chờ năm mới, đón chờ tuổi mới cũng xa vắng dần. Thế nhưng, khi tháng chạp tung cửa như khách lạ vào nhà, lòng lại bồn chồn “Có con én ngậm mùa xuân qua ngõ / Thương đến nhói lòng một tiếng chim rơi”. Ngày mùng một tết một mình đối diện với cơn sốt nóng, thấy bao nhiêu gương mặt lạ quen thảng thốt, thấy bao nhiêu nụ cười chưa tắt, thấy những bến bờ của mình mà ấm lòng đón cánh chim én mỏng chao xuống phố phường tất niên. Tôi ngồi im trong chộn rộn tiếng còi xe. Tất cả cứ nhòa đi như cuốn phim âm bản tái hiện những hình ảnh cố hương. Cố hương phiên chợ nghèo ngày xưa, dáng mẹ nghiêng vai gầy một miền kí ức. Cố hương dòng sông nắng hôm nào, bước em về trắng một cõi chiêm bao. Mới càng thấm thía nỗi Tết xao xác của những phận người tha hương. Chỉ cần một chút chớm lạnh giăng ngang trời thì con tàu rời ga hay chuyến xe chuyển bánh cũng trở thành ngậm ngùi nghìn trùng thơ ấu. Nơi ấy run run giá rét trên những tán cây già. Nơi ấy lung linh những món quà giản dị bày biện phiên chợ nghèo. Nơi ấy lao xao giọng cười con gái ngày cuối năm theo mẹ xuôi đò đi chợ tết. Bức tranh mơ hồ không rõ một đường nét nào mà cũng không che khuất một đường nét nào. Tất cả mờ ảo khi ẩn, khi hiện chờ những lúc như lúc này, khi hơi xuân tràn ngập mọi nẻo đường thì lại hiện ra như ngọn đèn khuya khoắt giấc chiêm bao mộng mị kiếp người. Đối với những người cả lo cả nghĩ như tôi thì cái tết dường như rạo rực hơn, tôi tin như vậy. Tôi đã bắt gặp (hay là do tôi tưởng tượng ra) ánh nhìn hoang hoải của bạn bè khi họ không kịp về ăn tết quê nhà, thẫn thờ đoái vọng quê kiểng mịt mờ thuở xưa phía co ro mưa phùn gió bấc. Suốt cả năm bôn ba cơm áo lẫn hối hả lợi danh, chẳng ai kịp nghĩ ngợi gì. Những ngày tết mới sực thức dậy bao tên tuổi quanh mình, ngỡ lãng quên bỗng rùng rùng như cơn gió bấc lùa qua mái lá trống trơn. Tết tha hương! Chỉ ba chữ ấy thoáng hiện lên đã khiến tôi giật mình bằng cái giật mình của giọt sương mai trên đầu chiếc lá khi rẻo nắng tháng giêng khấp khởi đổ lên cành. Những năm dạy học ở Nhật Bản, tôi đã có những cái tết trôi đi trong lặng lẽ. Ngày tết cổ truyền, cũng có bánh chưng, cũng giò, cũng cành đào cắm trên ban thờ nhưng sao cái nồng nã của màu đỏ hoa đào không thể nào khỏa lấp nỗi se sắt e dè khi nhìn đồng hồ điểm nhịp giao thừa mà khẽ khàng nhận ra thời khắc này nơi chôn nhau cắt rốn, mọi cảnh, mọi người đang nhích dần vào mùa xuân mới. Nghe lòng thăm thẳm, ngọt đau những lời thơ Trương Nam Hương: “Nơi chiếc lá thời gian ước lệ / Con nghe đau nhói tuổi mình / Có ánh mắt mẹ nhìn lặng lẽ / Cuối chân trời, cơn bão chờ tan / Càng nhớ mẹ những ngày giáp tết / Khói mùa xưa đọng mắt cay sè / Con ra phố một mình đón rét / Kiếm một niềm an ủi xa quê ”. Tết rồi, bóng hoàng hôn nhòe dần mắt mẹ, chống chếnh như cánh buồm căng mịt mù mong ngóng, người nặng lòng đất đai như tôi thì không thể biết cất nỗi nhớ tết vào đâu. Dẫu có “bát ăn bát để ” vẫn thấy đói khát hơi thở quê nhà mỗi độ xuân về. Không nén được những thoáng heo may vòng xoay thành giông bão, hồn tôi luôn xao xác “Cuối năm tình phơi lên áo cũ / Cuối năm tôi đứng lạc bóng mình ”. Khi ấy, mỗi lần bất chợt nhìn cánh chim xoải cánh chấp chới trên bầu trời xứ lạ lại thấm thía như mình đang mắc nợ cưu mang, nợ đấng sinh thành. Khi ấy, giao thừa, tôi tự ra ban công nhà xòe tay đốt pháo hoa. Khói bay lên cay sè mắt, nghe chộn rộn ước mong gặp gỡ tết quê nhà. Khi ấy, những ngọn gió nhớ nhà lật tung bao hoài niệm mong manh. Càng đi xa tôi càng thấy thấm thía hạnh phúc của những cái tết được sống giữa vòng tay của người thân yêu, dù ngay cả khi tết đến mà vẫn phải nằm đắp chăn vì ốm. Bởi trong nụ cười mẹ cha, trong hơi ấm bàn tay gầy guộc mà ấm áp của chị gái, trong nồng nàn hương thơm trên bàn thờ tiên tổ, trong tất cả những gì gắn bó thuộc về mình, tôi thấy mình nhỏ bé và hạnh phúc biết chừng nào. Tôi lại được về với chính tôi, với những ngày ba mươi tết rậm rịch, mệt mướt mồ hôi. Đọc tản văn của Nguyễn Ngọc Tư viết về ngày ba mươi tết lại càng thấy thấm thía. Năm nào cũng vậy, do thức dậy sớm đi chợ tất niên nên mẹ bao giờ cũng là người đầu tiên mở ra ngày ba mươi tết. Không biết có phải do mẹ “mở hàng” hay không mà ngày hôm đó cả nhà đều bận tốt mắt tối mũi. Đến nỗi nhắc tới tết là thấy chữ “ba mươi” chình ình, choán chật cả kí ức. Đó là cái ngày duy nhất trong năm cả nhà sum họp mà không sum họp. Ai nấy túi bụi mệt phờ với những phần việc của mình. Nào là quét mạng nhện trên trần, lau dọn ban thờ, kì cọ gác bếp. Lúc bố đang dọn dẹp bày biện ban thờ thì mùi chiên xào dưới bếp bay lên, lại phải bỏ ngang công việc đang làm dở, chuẩn bị mâm bàn đón tổ tiên về ăn tết. Xế chiều rồi. Cúng xong, bao giờ cũng vẫn thấy mẹ hì hụi trong bếp, cả chị cũng cắm đầu nấu chè, ngào đường. Cái dáng chị khum khum, tay đấm lia lịa vào lưng kêu mỏi quá nhưng vẻ mặt thì tươi rói, ngất ngây, giống hệt cả nhà, miệng kêu mệt mà hớn hở, như thể ngày cuối năm này không có việc gì làm mới là niềm đau khổ lớn. Tụi trẻ con như tôi khi ấy cũng bận rộn lắm, chạy đi chạy lại trong tiếng sai, hò, quát bảo của người lớn. Trên đường chạy đầu này đầu nọ, không quên thò đầu vào tủ, vuốt ve mấy bộ quần áo mới, có khi chỉ là đồ mặc thừa của anh chị nhưng vẫn sung sướng nôn nao, trông mau tới ngày mai để được xỏ tay rồi bịu xịu, càu nhàu trong bụng, không biết ông trời sinh ra ngày Ba mươi tết làm gì, mệt quá là mệt. Mà việc nào cũng quan trọng khủng khiếp, không thể để đến ngày mai. Tuyệt nhiên không ai chần chừ “để làm sau”. Cả nhà phải làm bằng hết việc, đến xanh mặt, mướt mồ hôi như ai đó đuổi đằng sau, như làm bây giờ để đến vài tháng sau vẫn còn được nghỉ. Lúc ấy, tôi thấy thật buồn cười vì kiêng cữ lắm thì chỉ thảnh thơi được sáng ngày mùng một, bữa sau mẹ đã tấp tểnh ra đồng, chị lại trồng rau ngoài vườn, mọi người trở lại với công việc ngày thường. Ba mươi đâu có thay đổi được gì mà làm muốn nín thở? Khi đó, tôi thật sự chưa biết, Tết là ngày ba mươi thôi đó. Khi tôi xỏ tay vào tấm áo mới, khi chị chải tóc trước gương, khi hoa cúc vàng nở run rẩy trước hiên nhà mồng một thì Tết đã chớm hết “mùng một, mùng hai tết phai, mùng ba, mùng bốn tết tàn”. Cho đến giờ, khi về nhà ăn tết với mẹ cha, tôi lại làm thay phần việc của bố tôi ngày xưa, lại lau dọn bàn thờ, lại hô hào mọi người dọn dẹp chỗ này, kê lại chỗ kia, rồi mua hoa, rồi sửa lại bóng đèn. Tất cả để lưu giữ cho thế hệ con trai tôi khi lớn lên có kí ức về ngày ba mươi tết sống động, lung linh những mồ hôi, những nụ cười, những khoan khoái, những ngọt ngào y như tôi đã có được từ ấu thơ. Mỗi bận chia tay năm cũ, tôi lại thấm thía một điều rất đỗi đơn sơ rằng, cái hạnh phúc giản dị nhất mà cũng kì vĩ nhất của người Việt là có nơi để bồi hồi khi trở lại mái bếp ấm lên ngọn lửa giao thừa. Thứ ánh sáng vừa hư vừa thực của ngọn lửa giao thừa hình như lấp lánh nỗi bao dung của thiên nhiên và bập bùng sự độ lượng của tiên tổ. Không thể nào giải thích rành mạch được, vì sao mỗi người soi bóng vào ngọn lửa giao thừa run rẩy ấy, chợt giàu có hơn, chợt lương thiện hơn, chợt nhân ái hơn. Từ những rung động chậm rãi riêng mình, tôi vẫn tin ngọn lửa giao thừa chính là phúc lộc bất tận mà bao thế hệ cha ông lầm lũi đã chắt chiu dành dụm lại cho con cháu hôm nay. Gần ba mươi năm lập nghiệp xa quê nhưng tôi luôn tìm cách để được đón tết nơi mảnh đất mà mình đã chôn nhau cắt rốn. Quê nhà với những con người lận đận áo cơm. Quê nhà có bạn bè một thuở. Quê nhà có mẹ cha luôn hiện hữu những mạch chảy yêu thương trong huyết quản. Quê nhà có mối tình đầu dù đã mù khơi nhưng trăm đợt sóng vỗ bờ vẫn bỏ lại nôn nao trắc ẩn biển đời mênh mang “Lời lỡ nuốt thế mà mai buột nở / Xuân đa mang hoa khốn khổ chung tình ”. Mãi mãi nhớ là thăm thẳm trong lòng về một đêm nào đưa tiễn, người tiễn người, người tiễn mình, ta tiễn ta… rồi hát “Người ta đã có đôi rồi / Chiếu chăn đâu ấm bằng người tình chung”? Quê nhà vẫn ấm sực mùi rơm thơm nôn nao trong kí ức. Quê nhà với vạt sân, mảnh vườn biết lên tiếng thì thầm bằng mải miết xanh, bằng bâng khuâng tím, bằng rực rỡ hoa vàng. Có lẽ bởi vậy, trong cuốn băng quay mừng thọ cha mẹ xuân này tôi đã cố gắng thu vào cái cảnh ba cha con, ông cháu cùng nhau trồng cây trên mảnh vườn nhỏ trước nhà. Mỗi khi xem, lại thấy ứa nước mắt. Bởi cha con, ông cháu đang làm nên sự diệu kì bằng một việc làm giản dị - vun trồng sự sống muôn thuở vĩnh hằng. Tất cả đang làm công việc của người “gieo hạt”, sâu sa hơn thế là để giữ một nếp nhà, giữ lề lối gia phong.
Kí ức ơi, ở lại với miền xưa nhé! Ngày mai khỏi ốm, tôi lại ra vườn trồng cây hoa cẩm chướng. Vườn quê xao xác lắm, hồn quê mênh mang lắm, lại được nghe tay chuối khô xào xạc, nghe chim hót, nghe dừa rụng xuống ao, nghe cây trái nói về triết lý của đất, nghe màu xanh mỡ màng chảy tràn qua năm tháng. Xanh như là có nhau!