Welcome to International Physics Olympiad 2008, Hanoi-Vietnam  
Số lượt truy cập
307973
    31 Tháng Bảy 2010 | , Đăng Nhập | SiteMap   Tìm Kiếm
    Bản tin từ xa và tại chức » Thông tin trao đổi
THIẾT KẾ MODULE BÀI GIẢNG MÔN SINH LÝ HỌC TRẺ EM ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP HOẠT ĐỘNG HOÁ NGƯỜI HỌC
I. Đặt vấn đề Trong một thế giới vận động tiến tới, khi mà luồng thông tin kiến thức được trao đổi trực tiếp và bùng nổ hàng giờ, nếu quá trình đào tạo và nâng cao chất lượng giáo dục vẫn chủ yếu dựa vào lượng kiến thức, thì nó sẽ đẩy người học luôn ở thế bị động trong bể kiến thức.


I. Đặt vấn đề

Trong một thế giới vận động tiến tới, khi mà luồng thông tin kiến thức được trao đổi trực tiếp và bùng nổ hàng giờ, nếu quá trình đào tạo và nâng cao chất lượng giáo dục vẫn chủ yếu dựa vào lượng kiến thức, thì nó sẽ đẩy người học luôn ở thế bị động trong bể kiến thức. Quá trình này không thể đáp ứng được mục tiêu đào tạo những con người chủ động, có thể giải quyết các vấn đề đa dạng của thực tiễn đang hàng ngày đổi thay.

Để góp phần thực hiện tốt hơn nhiệm vụ chính của giáo dục đại học ở nước ta là đào tạo nhân lực phục vụ kinh tế - xã hội đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong bậc đào tạo đại học vấn đề phương pháp giảng dạy, quy trình cụ thể cho hoạt động giảng dạy và hiệu quả của nó thường được nêu ra. Điều này không chỉ quan trọng ở loại hình giảng dạy chính quy, mà còn có tính cấp thiết cho các hình thức giảng dạy không chính quy, như chuyên tu, tại chức và từ xa.

Bài báo này giới thiệu Module bài giảng của Khoa Sinh-KTNN, áp dụng phương pháp hoạt động hoá người học. Đây là Module hoạt động giảng dạy học tập môn Sinh lý trẻ, thiết kế cho hệ không chính quy, như từ xa và tại chức, ở lớp học đông người, bậc đại học (Khoa Sinh-KTNN, ĐHSP, 2000; Vũ Quang Mạnh, 1999).

II. Cơ sở khoa học của phương pháp hoạt động hoá người học

            Trong tiến trình phát triển của giáo dục và đào tạo, có thể phân biệt bốn nhóm phương pháp chính, trong đó tính chủ động của người học được nâng cao dần, như sau:

1. Dạy học truyền thống, theo phương thức giáo viên nói gì học viên ghi nấy, đã được thực hành ngay từ khi con người có chữ viết. Phương pháp này thường buộc người học phải thuộc lòng những gì giáo viên truyền giảng trên lớp.

2. Dạy học qua đối thoại, định hướng và nêu vấn đề của giáo viên. Sau đó, người học sẽ tái hiện lại những kiến thức và nội dung đã được đề cập đến.

3. Phương pháp dạy học có tính gợi mở, nâng dần tính độc lập của người học, trong việc hình thành và tiếp thu tri thức.

4. Nhóm phương pháp thứ tư, trong đó người học được chủ động trong việc hình thành và tiếp thu kiến thức. Người học tiếp cận vấn đề theo cách riêng, và có thể phát triển thêm những ý tưởng mới.

Về bản chất của quá trình truyền đạt và làm chủ tri thức, chúng ta có thể xếp các nhóm phương pháp giáo dục đào tạo trên vào hai nhóm, là những phương pháp giáo dục đào tạo truyền thống, khi mà giáo viên là trung tâm của quá trình. Và nhóm phương pháp giáo dục đào tạo nâng cao tính chủ động của người học, trong đó trung tâm của quá trình hướng vào người học.

Trong lĩnh vực nhận thức của con người, B. Bloom (1956) đã chia thành 6 mức độ như sau: 1. Biết được, 2. Hiểu được, 3. Ứng dụng, 4. Lý giải, 5. Tổng hợp, và 6. Đánh giá. Sự cảm nhận của con người đã được D. Krathwohl (1964) phân chia thành 5 bậc sau: 1. Tiếp nhận, 2. Phản ứng lại, 3. Lượng giá, 4. Tổ chức hoá và 5. Đặc trưng hoá. Nghiên cứu của UNICEF (1993) cho thấy, con người có thể nhớ được: 10% cái họ đọc, 20% cái họ nghe, 30% cái họ thấy, 40-50% cái họ thấy và nghe, 70-80% cái họ nói, và 90% cái họ nói và làm.

Từ một số cơ sở đó, đã hình thành các phương pháp giáo dục hoạt động hoá người học, lấy người học làm trung tâm. Trong nhóm phương pháp này, ta có thể kể đến một số phương pháp như: 1. Học qua việc làm (Learning by doing), 2. Cùng tham gia (Participatory approach), 3. Trực quan hoá trong các hoạt động tham gia (Visualisation in participatory progarammes), 4. Đặt vấn đề và năng lực giải quyết vấn đề (Problem posing and solving ability), 5. Nghiên cứu trường hợp cụ thể (Case study) v.v...

III. Thiết kế module bài giảng môn Sinh lý trẻ, áp dụng phương pháp hoạt động hoá người học

3.1. Đặt vấn đề

            Dưới đây là đề cương gợi ý cho việc thiết kế một module bài giảng. Tùy mục tiêu, nội dung bài học, thời gian và số lượng người học cụ thể mà các đề mục có thể linh hoạt phát triển nhiều hoặc ít, bổ sung hay rút gọn cho phù hợp.

Module bài giảng được xây dựng trên cơ sở đề cương chi tiết với 10 đề mục. Đây chỉ là một số nội dung gợi ý và có thể linh hoạt thay đổi tuỳ bài học cụ thể. Module được thiết kế trên nội dung giáo trình đại học và tài liệu hưóng dẫn các kiến thức liên quan (Boekaerts M., 2002).

3.2. Thiết kế module bài giảng

1. Bậc học: Đại học.

2. Năm học: Không cố định.

3. Môn học: Sinh lý trẻ, Sinh học đại cương.

4. Chương, Mục, Chủ đề: Tuyến nội tiết/ Thần kinh cao cấp/ Tập tính học/ Phân loại thực vật.

5. Bài học: Vai trò của tuyến nội tiết/ Hoạt động của thần kinh cao cấp/ Tập tính động vật và hành vi con người/ Phân loại, phân bố và vai trò của thực vật.

6. Mục tiêu của bài học: Cung cấp cho học viên những kiến thức cơ bản về các tuyến nội tiết, hệ thần kinh, tập tính và hành vi, kiến thức liên quan đến phân loại, phân bố và vai trò của thực vật, với giáo dục phòng chống tệ nạn ma tuý.

7. Chuẩn bị bài giảng của giáo viên

Giáo viên chuẩn bị các quân bài - tấm bìa cứng, hướng dẫn hoạt động học tập, cỡ 15x10cm; với số lượng thay đổi linh hoạt tuỳ theo số học viên. Trên mỗi quân bài ghi sẵn một nội dung kiến thức cụ thể về ma tuý, như:

Nhóm 1 gồm 5 quân bài, ghi tên một số cây ma tuý thường gặp như sau: 1. Cây anh túc; 2. Cây cần sa; 3. Cây Côca; 4. Cây nấm Psylocibe hay một số nấm mốc khác; 5. Ma tuý hướng thần hay một số ma tuý nhân tạo khác.

Nhóm 2 gồm 5 quân bài, ghi tên các chiết xuất từ các thảo mộc hay chất tổng hợp nhân tạo như sau: 1. Heroine; 2. Hashish hay bồ đà; 3. Psilocybine, hay Mescalin, hay Musinol; 4. Côcaine; 5. Methamphetamine, Meth, Antropin, LSD-25, Seduxen...

Nhóm 3 gồm 5 quân bài, ghi về đặc điểm sinh học và chế biến như sau: 1. Cây thân thảo cao 0,5-1,5m, họ Papaveraceae; 2. Cây thân thảo cao 2,0-3,0m, họ Cannabinaceae; 3. Loài nấm hay mốc nhỏ phát triển nhờ bào tử, ở nơi tối và ẩm ướt; 4. Cây gỗ cao 5-7m, họ Erythroxylaceae; 5. Chế phẩm nhân tạo. 

Nhóm 4 gồm 5 quân bài, về vùng phân bố tự nhiên và nơi chế biến như: 1. Các nước Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, các nước vùng tam giác vàng châu Á Myanma, Thái Lan và Cam Pu chia; sống ở vùng núi cao trên 600 mét của miền Bắc Việt Nam; 2. Ấn Độ và một số nước châu Á khác; được trồng ở vùng tây Nam Bộ của Việt Nam, gần biên giới Cam Pu Chia; 3. Một số nước vùng Nam Mỹ, Pháp, Thụy Sĩ, hay ở những nơi ẩm ướt và tối; 4. Vùng Nam Mỹ trên dãy núi Andes, vùng rừng Amazôn; 5. Khắp nơi trên thế giới, trong phòng thí nghiệm hiện đại hoặc thô sơ.

Nhóm 5 gồm 10 quân bài, về phương thức sử dụng ma tuý như sau: 1.Hút; 2.Ngửi; 3. Hít; 4. Nhai; 5. Nuốt; 6. Uống; 7. Chích dưới da; 8. Tiêm bắp; 9. Tiêm tĩnh mạch; 10. Có thể sử dụng bằng nhiều hình thức.

Nhóm 6 gồm 5 quân bài, về tác hại của các loại ma tuý như sau: 1.Giảm đau, lạm dụng sẽ gây nghiện, thiếu thuốc gây hội chứng cai nghiện, có thể dẫn đến tử vong; 2. Tác động lên hệ thần kinh, gây ảo giác; 3. Kích thích thần kinh, lạm dụng sẽ gây nghiện, mê man, ngộ độc, chân tay co quắp, lạm dụng có thể tử vong; 4. Gây ảo giác, nhận định sai lệch về thời gian và không gian, lạm dụng có thể gây tử vong; 5. Tác động lên hệ thần kinh và nhịp tim, giảm hoặc gây đau, lạm dụng sẽ gây ngộ độc hoặc kích động thần kinh mạnh, gây tội ác tức thì.

8. Tổ chức và điều khiển hoạt động học tập của giáo viên

Đây chỉ là một vài gợi ý về vai trò điều khiển, trong một hoạt động giáo dục bộ môn sinh lý trẻ. Giáo viên có thể linh hoạt, chủ động xây dựng các hoạt động khác. Đây là hình thức hoạt động giáo dục đào tạo tích cực, hoạt động hoá học viên; nên cần tạo một không khí học tập chủ động và sáng tạo, tránh áp đặt; một số nội dung học mang tính gợi mở, định hướng và không nhất thiết bao giờ cũng phải có kết luận cuối cùng. Thời gian cho mỗi bài học, hoạt động có thể linh hoạt điều chỉnh, khoảng 60-120 phút là thích hợp; trong đó phần chủ yếu là dành cho nội dung hoạt động và làm việc theo nhóm, các ý kiến trình bày, trao đổi và đánh giá.

Về tư liệu, ngoài sách và tài liệu học bắt buộc, giáo viên có thể cung cấp thêm nguồn thông tin đại chúng, liên hệ thực tế gia đình và địa phương; như tình hình trồng, buôn bán, sử dụng và phòng chống tệ nạn, tội phạm về ma tuý (Đinh Quang Báo, 2002; Lê Thanh Vân, 2006; Tạ Thuý Lan, Trần Thị Loan, 2002; Vũ Quang Mạnh, 2000).

Chia nhóm: Chia lớp học nhanh, tự nhiên thành các nhóm hoạt động theo nội dung học, với 7-15 người mỗi nhóm. Có thể giữ nhóm theo tổ, nhưng nếu chia nhóm mới sẽ tạo một không khí hoạt động sáng tạo, kích thích mọi người cùng tham gia. Có thể chia nhóm theo nhiều cách, theo kiểu ngẫu nhiên, theo chủ đề tìm đến với nhau, theo các mảnh cắt của một bức tranh, theo kiểu đếm... Số lượng nhóm tương ứng với tổng số học viên và số câu hỏi nội dung học tập. Trong hoạt động quân bài... ở bài này, giáo viên có thể xếp học viên thành 6 nhóm theo chủ đề khác nhau.

Làm việc theo nhóm: Mỗi nhóm sẽ được giao một vài câu hỏi, nhiệm vụ hay chủ đề; sẽ nghiên cứu các thông tin liên quan, có ở trong sách hoặc tài liệu học tập; được giao dụng cụ và vật liệu tương ứng, phục vụ chuẩn bị thuyết trình trước toàn lớp. Các nhóm làm việc chủ động, không gò bó; phân công thư ký ghi chép các ý kiến vào giấy viết hoặc vào giấy bìa to, để sau đó lên trình bày trước toàn lớp. Các ý kiến vừa được ghi chép, vừa được thảo luận trong nhóm. Có thể, có ý kiến chung và thống nhất; nhưng cũng có những ý kiến chưa nhất trí hoặc là ý kiến riêng của cá nhân.

9. Hoạt động chuẩn bị của người học

Cơ sở kiến thức, đồ dùng học tập và nhiệm vụ của người học: Nhìn chung đây là những kiến thức bậc phổ thông trung học và từ sách hướng dẫn bộ môn. Định hướng kiến thức là về hệ thần kinh, tập tính, cây gỗ, nấm sợi, môi trường sống v.v... Người học được tham khảo thêm một số sách và thông tin hỗ trợ, do giáo viên phát trong khi học, dạng bản chụp. Người học có hiểu biết đại chúng về vấn đề ma tuý, qua thông tin công cộng. Cần có thêm bút viết, vẽ đen và màu; giấy trắng và bìa to, để người học viết và trình bày theo nhóm.

10. Hoạt động học tập của người học

Người học làm việc và trình bày theo nhóm một cách linh hoạt. Có thể đọc báo cáo, trình bày theo biểu bảng, hình vẽ, sơ đồ… Một, hai người hoặc cả nhóm cùng lên trình bày. Tất cả các nhóm đều được báo cáo nội dung đã chuẩn bị trước toàn lớp. Thứ tự trình bày của các nhóm không cố định. Cách trình bày sao cho sinh động và dễ nhớ. Sau báo cáo của mỗi nhóm, cần có phần ý kiến và lớp cùng thảo luận. Có thể thành lập một hội đồng đánh giá, chấm và phân loại kết quả trình bày của các nhóm.

Giáo viên có nhận xét, ý kiến chung và kết luận. Không nhất thiết phải kết luận tất cả các vấn đề. Có thể gợi ý cho người học suy nghĩ, tìm hiểu và liên hệ thêm về vấn đề liên quan.

3.3. Yêu cầu về kiến thức và kỹ năng của bài học

Sau khi tham gia hoạt động học tập này, người học cần làm chủ được một số kiến thức về tuyến nội tiết, thần kinh cao cấp, tập tính và hành vi; và kiến thức liên quan về thực vật và hoá học, như khái niệm về ma tuý tự nhiên và nhân tạo.

(Source: VŨ QUANG MẠNH - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội )
Read on >>
  
  
  
  
  

Đc: Tầng 6 Nhà Hành chính Hiệu bộ - Trường đại học Sư phạm Hà Nội
136 Xuân Thủy - Cầu Giấy - HN