I. CƠ SỞ CỦA VIỆC ĐỔI MỚI NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Việc đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo ở Trường ĐHSP Hà Nội dựa trên các cơ sở sau:
- Nghị quyết Trung ương Đảng về đổi mới giáo dục đại học.
- Chiến lược xây dựng Trường ĐHSP Hà Nội thành trường đại học trọng điểm quốc gia.
- Kinh nghiệm 57 năm của Trường trong NCKH và đào tạo theo hướng biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo.
- Kết quả nghiên cứu của 16 đề tài trọng điểm, 93 đề tài, dự án cấp Bộ và 63 đề tài cấp Trường.
- Đội ngũ cán bộ khoa học ngày càng được trẻ hóa có đủ trình độ cập nhật thông tin để thực hiện đổi mới.
Vì vậy để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, ngay từ khi tách khỏi Đại học Quốc gia Hà Nội (tháng 10 -1999) Trường ĐHSP Hà Nội đã xây dựng lộ trình “Tổ chức Trường thành Trường Đại học Sư phạm Hà Nội trọng điểm chuẩn mực”. Với lộ trình này, dần dần xây dựng Trường thành trường đại học nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực; đi đầu trong việc đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa.
Để thực hiện chiến lược phát triển Trường thành trường chuẩn quốc gia, Nhà trường đã từng bước kiện toàn đội ngũ, xây dựng các hướng nghiên cứu về Khoa học cơ bản, Khoa học sư phạm đủ mạnh để đào tạo cán bộ, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực. Từ đó xây dựng hoàn thiện dần cơ sở vật chất phục vụ đào tạo; xây dựng trung tâm thông tin thư viện, giảng đường, phòng thí nghiệm, thực hành, phòng nghiên cứu, các phòng nghiệp vụ nghiên cứu về sư phạm học, mạng lưới các trung tâm nghiên cứu khoa học chuyển giao công nghệ, các viện nghiên cứu.
II. MỘT SỐ TIỀN ĐỀ TẠO ĐIỀU KIỆN CHO VIỆC ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP
Một số tiền đề tạo điều kiện cho việc đổi mới phương pháp đào tạo là:
1. Xây dựng hoàn thiện nâng cấp nội dung chương trình đào tạo của các bậc đào tạo
Xây dựng các chương trình đào tạo tiên tiến, đảm bảo tính khoa học, sư phạm, hiện đại dùng cho nhiều trường ĐHSP khác trong cả nước. Các chương trình được cập nhật về nội dung, phương pháp sát với thực tiễn Việt Nam.
Hiện tại Trường đã xây dựng được:
- 26 chương trình đào tạo hệ chính quy (20 chương trình đào tạo giáo viên, 6 chương trình đào tạo hệ cử nhân).
- 7 chương trình đào tạo cử nhân chất lượng cao đã được triển khai giảng dạy 12 năm nay.
- 21 chương trình đào tạo không chính quy (18 chương trình đào tạo giáo viên, 3 chương trình đào tạo ngoài sư phạm) được xây dựng trên cơ sở chương trình hệ chính quy để thực hiện phương thức đào tạo liên thông giữa các trình độ.
- Xây dựng 31 chương trình đào tạo thạc sĩ với quy mô 2.000 học viên, 40 chương trình đào tạo tiến sĩ với quy mô 250 nghiên cứu sinh. Việc xây dựng những chương trình đào tạo này có tham khảo các chương trình tiên tiến của nhiều nước trên thế giới vận dụng vào thực tiễn đào tạo Việt Nam. Hàng năm Trường đều có chỉnh sửa cho sát với thực tế; thông qua thực tiễn đào tạo cứ 2 - 3 năm lại điều chỉnh toàn cục cho phù hợp với xu thế phát triển của khoa học. Một số chuyên ngành có mời các chuyên gia nước ngoài vào cùng tham gia giảng dạy và đào tạo (một số bộ môn ở khoa Toán học, Vật lý, Sinh học).
Trường đã xây dựng thực nghiệm chương trình tiên tiến ở một số chuyên ngành (Toán học, Vật lý, Sinh học) để làm cơ sở rút kinh nghiệm triển khai ở nhiều ngành khác. Những nghiên cứu có hệ thống thông qua các đề tài trọng điểm đảm bảo cơ sở lý luận và thực tiễn tạo ra tính khả thi cao.
2. Xây dựng nhân lực, cơ sở vật chất để thực hiện chiến lược đổi mới phương pháp dạy học ở Trường ĐHSP Hà Nội
a. Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học và cán bộ giảng viên có trình độ khoa học, nghiệp vụ sư phạm cao, tăng cường trẻ hóa đội ngũ cán bộ, gửi đi đào tạo và đào tạo lại ở các nước tiên tiến, đặc biệt là các lĩnh vực mũi nhọn và ngành khoa học mới thông qua quan hệ hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu của 35 quốc gia trong khu vực và trên thế giới.
Về nhân lực, Trường hiện có:
- GS, PGS: 141 (22 GS, 119 PGS)
- TS, TSKH: 426 (10 TSKH, 416 TS)
- Thạc sĩ: 422
Đội ngũ cán bộ của Trường, ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ đào tạo và NCKH còn có khả năng hỗ trợ cho các trường đại học khác.
Đội ngũ cán bộ khoa học của Trường hàng năm được giao hai nhiệm vụ: Nghiên cứu khoa học và đào tạo theo các lĩnh vực chuyên môn. Đồng thời Nhà trường khuyến khích, tạo điều kiện để các cán bộ tham dự các hội nghị, hội thảo quốc tế. Trong 3 năm trở lại đây, các cán bộ của Trường đã tham gia viết được 255 bài báo ở các tạp chí quốc tế, 2.335 bài báo đăng ở tạp chí và kỷ yếu khoa học chuyên ngành trong nước, xuất bản gần 1.000 giáo trình, sách giáo khoa, sách tham khảo, nhiều giáo trình điện tử phục vụ cho giáo dục phổ thông.
b. Xây dựng cơ sở vật chất tạo điều kiện đổi mới phương pháp giảng dạy ở đại học thông qua hệ thống các đề tài nghiên cứu về khoa học giáo dục.
- Xây dựng 12 phòng học chuẩn (phòng học đa năng) để tạo điều kiện cho cán bộ triển khai đổi mới phương pháp dạy và học.
- Xây dựng các phòng thí nghiệm thực hành tạo điều kiện cho sinh viên học qua thực hành nghiên cứu (hiện tại Trường đã có 38 phòng thực hành thí nghiệm, 59 xưởng thực tập thực hành đã được nâng cấp nhờ sự hỗ trợ tài chính của Bộ và nguồn tài chính tự có của Trường).
- Xây dựng hệ thống thư viện để nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu, giảm giờ lên lớp, tăng cường đổi mới cách dạy (gồm có Trung tâm Thông tin Thư viện và 17 thư viện chuyên ngành tại 17 khoa đào tạo). Thư viện Trung tâm có 31 phòng đọc, phòng tin học, phòng Multimedia, được nối mạng với thư viện quốc gia, với thư viện của nhiều trường đại học và các viện nghiên cứu; giáo trình, tạp chí khoa học, tài liệu được cập nhật thường xuyên. Thư viện Trường hiện có 80.734 đầu sách với 356.102 bản gồm nhiều thứ tiếng; có một cơ sở dữ liệu đủ lớn về các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, tạp chí khoa học trong và ngoài nước được lưu trữ trong các phần mềm, các ổ dữ liệu dễ dàng tra cứu khi cần thiết.
- Bước đầu Trường đã xây dựng được các phòng thí nghiệm nghiên cứu đủ mạnh để thực hiện các đề tài nghiên cứu về khoa học ứng dụng, đổi mới nội dung và phương pháp, đào tạo cán bộ khoa học và hợp tác quốc tế. Đó là các phòng thí nghiệm nano, phòng thí nghiệm vật lí quang, phòng thí nghiệm công nghệ sinh học, chuyển gen, phòng thí nghiệm phân tích chung Hóa - Sinh, phòng thí nghiệm nghiên cứu xúc tác, phòng thí nghiệm đổi mới nội dung và phương pháp dạy học. Một trường thực hành để triển khai các nghiên cứu phương pháp dạy học phổ thông trước khi áp dụng đại trà. Một khối THPT chuyên là cơ sở để triển khai các ý tưởng cho nghiên cứu bồi dưỡng nhân tài phục vụ đất nước.
Trường còn có 30 trung tâm nghiên cứu khoa học thuộc nhiều chuyên ngành nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu các ứng dụng và hai viện nghiên cứu tập trung các nhà khoa học triển khai các nghiên cứu về lĩnh vực sư phạm và khoa học xã hội, nhân văn. Những năm qua, các trung tâm khoa học và viện nghiên cứu đã có những thành tựu đáng kể trong việc mở rộng quy mô nghiên cứu, triển khai và hợp tác nghiên cứu.
III. THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
Trên cơ sở xây dựng tiềm lực về con người, cơ sở vật chất cho đổi mới phương pháp, trong những năm qua, Trường đã thực hiện được một số đổi mới cơ bản sau:
1. Chương trình đào tạo được định kỳ bổ sung, điều chỉnh có sự tham khảo chương trình chuẩn quốc tế, có ý kiến phản hồi từ các nhà tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp, các tổ chức giáo dục và các tổ chức khác nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn lực phát triển kinh tế xã hội, tạo điều kiện để tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học.
- Các chương trình xây dựng trong quá trình triển khai thực hiện nếu có gì phát sinh ở từng chương trình đều được điều chỉnh kịp thời.
- Điều chỉnh định kỳ (sau mỗi khóa đào tạo) trên quy mô toàn bộ (các chu kỳ chỉnh sửa 2000, 2005, 2007).
- 60% chương trình đào tạo được xây dựng bổ sung có tham khảo cập nhật chương trình đào tạo nước ngoài (trừ những chương trình đặc trưng cho Việt Nam).
- Lấy ý kiến người tuyển dụng để xem xét chất lượng nguồn nhân lực đào tạo nhằm chỉnh sửa chương trình và phương pháp đào tạo (mới tiến hành từ năm 2007).
- Mỗi chương trình đào tạo ngoài nội dung còn phải đề cập tới phương pháp dạy và học, phương pháp kiểm tra đánh giá, phương pháp tự học giúp sinh viên trong quá trình học; các chương trình này xây dựng theo hướng phát triển đảm bảo tính cập nhật cao.
2. Chương trình đào tạo được thiết kế theo hướng liên thông giữa các trình độ, các bậc đào tạo.
- Chương trình đào tạo không chính quy được thiết kế trên chương trình đào tạo của hệ chính quy, liên thông cho hệ đào tạo không chính quy.
- Liên thông giữa đào tạo cử nhân chất lượng cao với đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ.
3. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu, làm việc theo nhóm. Cụ thể là:
- Trường có đủ hệ thống giáo trình chuẩn cho đào tạo (giáo trình chuẩn được thiết kế dựa trên đề tài trọng điểm). Nghiên cứu xây dựng giáo trình kết hợp giữa khoa học cơ bản với nghiệp vụ và tài liệu tham khảo cho các ngành học để giảm giờ lên lớp, tăng cường thảo luận ở lớp, làm bài tập nghiên cứu ở nhà.
- Tổ chức các xemina: Mỗi giáo trình lên lớp, giảng viên ngoài việc dạy phương pháp học còn tổ chức các xemina về những vấn đề cốt lõi của giáo trình nhằm tăng cường hoạt động học tập, nghiên cứu của sinh viên để biến quá trình học thụ động thành học chủ động.
- Đối với các sinh viên mới nhập học: Nhà trường đã tổ chức nhập môn chung cho tất cả sinh viên về phương pháp tự học và hỗ trợ tự học (phương pháp nghe giảng và ghi chép, phương pháp nắm vững giáo trình, phương pháp sử dụng từ điển, phương pháp tự kiểm tra, tự điều chỉnh tiến trình học, phương pháp nghiên cứu khoa học, phương pháp tổ chức học nhóm, cách tổ chức xemina ở đại học) nhằm tạo tâm thế chủ động cho sinh viên để chuyển từ cách học phổ thông sang cách học đại học.
- Mỗi giảng viên lên lớp có giáo trình và ít nhất có 2 đến 3 tài liệu tham khảo mang tính cập nhật có trong thư viện hoặc được lưu trữ trên mạng của Trường bằng các giáo trình điện tử.
- Tổ chức học thông qua thí nghiệm thực hành ở những chuyên ngành có thực nghiệm (Vật lý, Hoá học, Sinh học, KTCN, CNTT).
- Hàng năm tổ chức nhiều hội thảo, hội nghị khoa học cấp khoa, cấp trường, cấp quốc gia về đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học ở các trường đại học và cao đẳng nhằm tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, tìm các biện pháp đổi mới và cách thức tổ chức đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả.
Trong 5 năm qua, Trường đã:
- Tổ chức 90 hội thảo cấp khoa, 30 hội thảo cấp trường, 36 hội thảo cấp quốc gia, 20 hội thảo quốc tế.
- Xây dựng thêm 80 giáo trình điện tử, hàng trăm phần mềm mô phỏng, bài giảng điện tử, 380 tài liệu tham khảo, 479 giáo trình phục vụ cho đổi mới dạy và học ở đại học và phổ thông.
- Xây dựng Trung tâm CNTT, nối mạng trong toàn trường, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên và cán bộ có điều kiện truy cập thông tin, trao đổi kinh nghiệm đổi mới phương pháp dạy và học nhanh chóng, thuận lợi.
- Tăng cường công tác NCKH của sinh viên ngay từ năm thứ 2, tạo ra các nhóm nghiên cứu khoa học trong sinh viên ở các khoa làm các bài tập nghiên cứu, tập dượt cho sinh viên phương pháp nghiên cứu. Công tác này đã đi vào nề nếp. Mỗi năm Trường có 500 - 600 công trình khoa học của sinh viên. Sinh viên nghiên cứu khoa học là hoạt động đào tạo tích cực nhất, là cụ thể của biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Chỉ tính riêng trong 5 năm lại đây, Trường đã có 55 công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên đạt giải thưởng cấp Bộ và giải thưởng Vifotec, bao gồm:
7 giải nhất cấp Bộ và 2 giải nhất Vifotec.
6 giải nhì cấp Bộ
9 giải ba cấp Bộ
31 giải khuyến khích cấp Bộ.
Trường ĐHSP Hà Nội là một trong số các trường đại học, học viện có hoạt động sinh viên NCKH xuất sắc nhất. Nhiều năm liên tục, Trường được Bộ trưởng Bộ GD &ĐT tặng bằng khen về hoạt động này. Năm 2004, Bộ GD &ĐT tổng kết 15 năm hoạt động sinh viên NCKH (1990 - 2004), Trường ĐHSP Hà Nội là một trong 7 đơn vị của toàn quốc được Thủ tướng Chính phủ cấp Bằng khen.
Thông qua NCKH và tổ chức các lớp cử nhân chất lượng cao, Trường đã kịp thời bổ sung được nguồn cán bộ giảng dạy cho Trường và cho nhiều trường đại học khác.
Để thực hiện công tác trên, Trường đã có những biện pháp, các quy chế cụ thể trong chỉ tiêu thi đua hàng năm đối với cán bộ. Trường đã phối hợp chặt chẽ giữa Đảng, chính quyền, công đoàn, đoàn thanh niên để chỉ đạo đôn đốc thường xuyên.
4. Đổi mới nội dung, tiếp cận các phương pháp dạy học hiện đại cho sinh viên, học viên cao học qua hợp tác trao đổi với các chuyên gia quốc tế để cập nhật thông tin, cập nhật các phương pháp mới (dạy học theo nhóm, dạy học chương trình hóa, phương pháp Modul, đặt và giải quyết vấn đề, dạy học khám phá) thông qua các chuyên đề, hội thảo, tập huấn...
5. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đi trước một bước từ các nghiên cứu khoa học, thận trọng chuyển giao việc đổi mới phương pháp cho giáo viên các Sở GD &ĐT từ Mầm non, Tiểu học đến Trung học.
Ví dụ:
- Từ các đề tài, dự án đưa giáo dục môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân, ứng dụng CNTT vào đổi mới dạy học. Nhà trường đã triển khai nghiên cứu xây dựng chương trình ở từng khoa. Sau đó đã tiến hành 3 đợt tập huấn cho giáo viên chủ chốt của 44 Sở GD &ĐT trong toàn quốc đạt kết quả tốt.
- Tập huấn cho giảng viên của Trường về phương pháp “Bàn tay nặn bột”. Xây dựng quy trình tập huấn cho giáo viên phổ thông trong 2 đợt về phương pháp “Bàn tay nặn bột” và sử dụng đồ dùng dạy học ở trường phổ thông đạt kết quả tốt.
- Hàng năm lấy ý kiến đề xuất của các Sở GD &ĐT miền núi xây dựng các chương trình bồi dưỡng phù hợp, tổ chức bồi dưỡng cho các tỉnh miền núi phía Bắc có kết quả tốt, góp phần nâng cao chất lượng cải cách giáo dục hiện nay.
6. Phương pháp và quy trình kiểm tra đánh giá đa dạng hơn, đảm bảo tính nghiêm túc, khách quan, chính xác, công bằng và phù hợp với phương thức đào tạo, hình thức học tập, đánh giá mức độ tích lũy của người học về kiến thức chuyên môn, kỹ thuật thực hành, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề.
- Xây dựng đề cương bài giảng, hướng dẫn tự học cho sinh viên, hệ thống câu hỏi kiểm tra đánh giá nội dung và phương pháp học, hình thức kiểm tra đánh giá với từng giáo trình, chuyên đề để sinh viên chủ động việc học.
- Xây dựng hệ thống ngân hàng câu hỏi kiểm tra đánh giá hết môn học: khoảng 70% tự luận, 15% trắc nghiệm khách quan, 15% vấn đáp. Các câu hỏi đó có chú ý tới vấn đề tự học của sinh viên và tính sáng tạo của người học.
Hiện tại hầu hết các khoa đã có ngân hàng kiểm tra đánh giá (ngân hàng câu hỏi là kết quả của một Đề tài dự án của Trường nên có giá trị lý luận và thực tiễn cao). Cho đến nay, toàn Trường đã có ngân hàng câu hỏi hoàn chỉnh cho 279 giáo trình thuộc 15/21 khoa được lưu giữ ở Trung tâm Kiểm định và Đánh giá chất lượng của Trường. Các khoa còn lại đang trên đường hoàn chỉnh để đưa vào sử dụng. Hệ thống ngân hàng này hàng năm được cập nhật, bổ sung, thay đổi cho phù hợp với yêu cầu đào tạo.
Ngân hàng câu hỏi đã có tác dụng rất lớn trong việc thúc đẩy việc học của sinh viên và đổi mới cách dạy của giáo viên trong toàn trường.
- Xây dựng Trung tâm Kiểm định và đánh giá chất lượng đào tạo.
5 năm gần đây, Nhà trường giao việc dạy cho các giảng viên, việc đánh giá cho Trung tâm Kiểm định và Đánh giá chất lượng. Vì vậy đã tách việc dạy với việc đánh giá nên đảm bảo tính khách quan, công bằng trong thi cử.
Nhờ công tác kiểm tra đánh giá có tính khoa học, kết quả học tập của sinh viên được thông báo kịp thời, chính xác, luôn giữ bảo mật, văn bằng tốt nghiệp được cấp đúng quy định.
IV. MỘT VÀI KIẾN NGHỊ THAY CHO LỜI KẾT
- Việc đổi mới phương pháp dạy học ở đại học phải tiến hành song song với đổi mới nội dung vì phương pháp là hình thức vận động của nội dung.
- Nhà trường trong mấy năm nay đã có những chuyển biến mạnh trong nhận thức và hành động, chuyển từ phương pháp tiếp cận nội dung sang tiếp cận phương pháp để đào tạo năng lực thực tiễn phù hợp với nhu cầu xã hội.
- Việc ứng dụng các phương pháp
dạy học mới cần phải thận trọng và có những nghiên cứu khách quan để đảm bảo tính khả thi cao, bền vững. Cần phải có nhận thức mang tính khách quan về ưu điểm và hạn chế của từng phương pháp.
- Việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay đã chủ động đi trước công cuộc đổi mới phương pháp dạy học ở các trường phổ thông.