 |
|
|
|
|
|
|
|
KHƠI NGUỒN LỰC GIÁO DỤC TỪ XA TỪ CÁC TIẾN BỘ KHOA HỌC - KỸ THUẬT
|
|
I. Giáo dục từ xa (GDTX) với các tiến bộ của khoa học sư phạm, của tin học và viễn thông
I. Giáo dục từ xa (GDTX) với các tiến bộ của khoa học sư phạm, của tin học và viễn thông
Trong việc dạy và học truyền thống, công cụ thông tin chủ yếu giữa thầy và trò là lời nói trực tiếp và chữ viết tầm gần vì thầy và trò, ở trên lớp thì giáp mặt nhau, ra khỏi lớp thì cũng ở gần nhau. Khi thầy và trò xa nhau lâu dài thì trước đây chỉ còn công cụ là chữ viết tầm xa (thư từ) khiến cho khoảng cách không gian kéo theo khoảng cách thời gian và nhiều thứ khoảng cách khác, đặc biệt là khoảng cách tâm lý. Chính khoảng cách không gian trước đây đã cản trở rất nhiều sự phát triển giáo dục vì điều kiện để dạy được và học được là thầy và trò phải có mặt cùng một lúc và cùng một nơi. Ịêu cầu cùng một lúc và cùng một nơi sinh ra rất lắm yêu cầu khác như trường sở, đi lại, ăn ở. Nếu khắc phục được khoảng cách không gian bằng thư từ thì lại sinh ra trước hết khoảng cách thời gian và hạn chế việc tiếp nhận tri thức vì dung lượng của các tài liệu viết rất thấp. Vì vậy, để tạo điều kiện học dễ dàng cho nhiều người, người ta phải tập trung nghiên cứu việc khắc phục khoảng cách càng ngày càng tốt hơn: truyền thanh, truyền hình rồi băng tiếng, băng hình. Những phương tiện này rõ ràng có hỗ trợ vào việc khắc phục khoảng cách nhưng đều có nhược điểm là không giải quyết được liên hệ ngược là điều cực kỳ quan trọng trong dạy và học: người học có thắc mắc gì không hỏi được các máy thu thanh, thu hình để điều chỉnh việc học cho kịp thời, người dạy cũng chả biết những người nghe mình, thấy mình để học qua các máy thu thanh, thu hình có thắc mắc không. Phải đến máy tính điện tử và trí tuệ nhân tạo mới giải quyết được liên hệ ngược.
Ngày nay, với các tiến bộ của tin học và viễn thông, người ta có thể tổ chức những lớp học tập trung mà người giảng bài ở xa nhưng trong quá trình giảng, thầy, trò, khi cần, có thể đối thoại với nhau được. Tuy nhiên, cách này khá tốn kém và việc đối thoại trực tiếp vẫn bị hạn chế như ở các lớp tập trung truyền thống; rẻ hơn và tốt hơn là người học thắc mắc gì thì cứ nạp thắc mắc vào máy và sẽ nhận được ngay lời hướng dẫn, giải đáp trên màn hình của máy. Máy làm được như vậy là nhờ có thầy chuẩn bị cho nó. Một sự chuẩn bị như vậy là hết sức công phu. Thầy dạy giỏi, rất nhiều kinh nghiệm chỉ mới là điều kiện cần nhưng chưa đủ để viết được những phần mềm dạy học tốt đem ghi vào các đĩa từ cho người học cài vào máy tính điện tử mà học. Ngoài tiêu chuẩn giỏi và giàu kinh nghiệm dạy học ra, thầy còn phải tâm huyết đầu tư nhiều thì giờ và công sức với một tác phong làm việc công nghiệp. Cũng một ông thầy đó, nhưng công phu chuẩn bị soạn bài lên lớp với đầy đủ tinh thần trách nhiệm, sẽ không thấm gì so với công sức bỏ ra để viết phần mềm dạy học sao cho máy tính điện tử có thể giải đáp mọi thắc mắc của người học. Bởi lẽ người soạn bài lên lớp có tinh thần trách nhiệm cũng chỉ phụ trách dạy cho một vài lớp, mỗi lớp cỡ vài chục học sinh. Dĩ nhiên, khi soạn bài, thầy đã hình dung trước quá trình lên lớp sẽ xảy ra, chuẩn bị trước sự giải đáp v.v..., nhưng cũng chỉ một mức nào đó mà thôi, đến khi lên lớp sẽ tuỳ cơ mà ứng biến. Chính vì chịu trách nhiệm trước một số học sinh không đông lắm, lại có điều kiện giáp mặt với họ khi lên lớp nên sự chuẩn bị dù chu đáo đến đâu cũng chỉ đến một giới hạn nào đó mà thôi. Trái lại, người viết phần mềm dạy học không chỉ phục vụ cho một vài lớp học, mà phục vụ cho cả nước, có khi đến hàng nghìn, hàng vạn người học theo cùng một giáo trình, nên trách nhiệm rất lớn, đã thế lại không có lên lớp giáp mặt học sinh để mà tuỳ cơ ứng biến cho nên việc hình dung trước những tình huống có thể xảy đến cho từng người học để chuẩn bị cho máy tính thay mình mà hướng dẫn, giải đáp cho người học là một việc khó khăn và công phu. Trước hết là phải biết lựa chọn vấn đề vì không phải phần nào trong giáo trình cũng học qua máy tính điện tử; người học nào cũng có giáo trình và tài liệu in hướng dẫn tự học; nếu xét thấy rằng những phần nào, tuyệt đại đa số người học đều có thể học với tài liệu in mà không gặp khó khăn gì thì những phần đó cho qua, chỉ giữ lại những phần xét thấy rằng, người học muốn hiểu thấu đáo phải có đối thoại với thầy và thầy sẽ chuẩn bị sao cho máy có thể thay mình làm việc đối thoại đó. Như vậy việc lựa chọn vấn đề cũng không đơn giản. §ối với mỗi vấn đề đã cân nhắc để lựa chọn, phải chuẩn bị kịch bản đối thoại. Việc này cũng không thể đơn giản là lục lọi trong vốn kinh nghiệm dạy về vấn đề đó rồi ngồi mà viết ra vì như vậy, sự lường trước vẫn có thể không sát.
Phải làm việc theo một tác phong công nghiệp là xây dựng ngân hàng các thắc mắc của người học bằng cách tích luỹ dần qua quá trình dạy của mình (với sự cộng tác của các trợ giảng), bước đầu là tích luỹ thô, nghĩa là cứ thu thập để đó đã, sau đó mới xử lý tinh như xem xét tần số xuất hiện của từng thắc mắc, chọn ra những thắc mắc có tần số xuất hiện vượt qua một giới hạn nào đó (tức là loại đi những thắc mắc hiếm, họa lắm mới có). Mỗi thắc mắc như vậy sẽ được đem xử lý "tinh", nghĩa là có một sự nghiên cứu giải đáp sao cho hay nhất, phù hợp nhất với từng loại đối tượng (như giải đáp cho học sinh kém khác giải đáp cho học sinh trung bình, giải đáp cho học sinh trung bình khác giải đáp cho học sinh khá, giỏi v.v...). Chính những ngân hàng được chuẩn bị sẵn như vậy là kho tư liệu để người viết phần mềm dạy học chuẩn bị cho người học đối thoại với máy tính điện tử. Như vậy vẫn chưa đủ. Viết xong kịch bản, để cho sát hơn, phải đem ra thử với những người học giáp mặt với mình thuộc đủ các loại để xem họ phản ứng ra sao, trên cơ sở đó mà hoàn chỉnh thêm kịch bản.
Tất nhiên, máy tính là vật vô tri, nó làm việc đối thoại đó hay, dở đến đâu là do thầy giáo chuẩn bị cho nó. Dù thầy chuẩn bị cho nó tốt đến đâu thì phần mềm dạy học cũng khó linh hoạt tuỳ cơ ứng biến như thầy. Khi giáp mặt trò nó chỉ ứng biến được trong chừng mực thầy chuẩn bị cho nó. Tuy nhiên phải thấy rằng, việc chuẩn bị phần mềm dạy học cho máy tính buộc thầy giáo phải lao động công phu hơn là soạn bài nhiều, do vậy mà hút được chất xám của thầy nhiều hơn. Nếu ta ví chất xám dạy học của thầy như chất đường trong cây mía thì soạn bài bình thường chỉ là một máy ép mía thô sơ còn viết phần mềm dạy học là một máy ép tinh vi và nó càng tinh vi nếu lại có thêm những chính sách thoả đáng thu hút các tài năng sư phạm, để các tài năng đó khỏi phải phân tán.
Trên đây là mới nói đến lao động sư phạm của thầy giáo. Nó còn phải tiếp tục bằng lao động tin học để các ngữ cảnh đối thoại ghi trên giấy chuyển thành những tín hiệu có thể ghi vào đĩa từ để cài vào máy tính điện tử. Lao động tin học này trước đây cũng vất vả không kém lao động sư phạm.
Tuy nhiên ngày nay, nó đã có thể tự động hoá nhờ những phần mềm (cũng được ghi vào đĩa từ) gọi là phần mềm hệ thống sản xuất phần mềm dạy học. Một người không có chuyên môn về tin học cũng có thể học trong một thời gian rất ngắn để sử dụng nhằm chuyển sản phẩm lao động sư phạm của mình thành sản phẩm có thể ghi vào đĩa từ. Trong đó đĩa từ gốc ghi phần mềm dạy học thường có cả khoá chống sao chép để bảo vệ quyền tác giả vì nếu không giải mã được khoá thì không thể sao được bản gốc. Các bản sao được bán trên thị trường và cơ chế thị trường cũng góp phần vào việc sàng lọc: nếu hai thầy giáo cùng viết các phần mềm dạy học cho một giáo trình nào đó thì người mua sẽ tìm mua phần mềm nào có chất lượng hơn, giống như nếu để cho học sinh chọn thầy thì thầy giỏi sẽ đông người học hơn.
Nếu các máy tính điện tử được nối mạng và nếu ở cơ sở dữ liệu trung tâm có đĩa từ gì thì ở các máy tính cuối không cần có các đĩa từ đó nữa. Vì các đĩa từ quang học có sức chứa rất lớn, mỗi đĩa có thể chứa cả một bộ đại từ điển bách khoa, nên các cơ sở dữ liệu lớn có thể chứa trong các đĩa từ của chúng toàn bộ các sách trong những thư viện lớn và do đó ngồi một nơi có thể trong chốc lát với đến những gì mình cần có ở các thư viện xa hàng vạn dặm.
Các phần mềm dạy học không chỉ có tác dụng trong GDTX mà có tác dụng đến cả giáo dục truyền thống, vì một đĩa từ được sản xuất ra công phu như vậy cũng sẽ giúp ích rất nhiều cho các thầy soạn bài lên lớp. Hơn nữa các thầy lên lớp có thể sử dụng các đĩa từ đó để tự giải phóng cho mình khỏi nhiệm vụ truyền thụ kiến thức (giao cho máy tính) còn mình thì có thì giờ để rèn óc thông minh cho học sinh. §iều này có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng khi ta nghĩ rằng hiện nay, thầy giáo ở nước ta dành đến 90% thì giờ để truyền thụ kiến thức, chỉ còn độ 10% thì giờ để rèn trí thông minh.
Lướt qua một chút về những tiến bộ khoa học kỹ thuật được vận dụng trong GDTX, ta thấy ngay rằng sự vận dụng đó phải đi đôi với những tiến bộ về quản lý, cụ thể là phải có tác phong về tổ chức quản lý kiểu công nghiệp hiện đại. Ngay một việc chưa đòi hỏi máy móc gì như lao động sư phạm để viết phần mềm dạy học cũng đòi hỏi một tác phong công nghiệp như trên đã trình bày, chưa nói đến những việc như quản lý một cơ sở dữ liệu mà trong đó riêng việc chống ẩm, chống virut đã không chấp nhận tác phong thủ công nghiệp, hay một việc tưởng chừng rất đơn giản như việc ghi địa chỉ để gửi các sản phẩm giáo khoa cho học viên cũng phải tự động hoá từ khâu lưu trữ các địa chỉ, lấy ra, in, dán vào phong bì, đưa phong bì vào thùng để chở ra bưu điện. Quả vậy, khi GDTX đã phát triển thì một trung tâm quốc gia ở một nước cỡ hơn 80 triệu dân như nước ta, số học viên có thể là hàng trăm nghìn, cơ cấu trình độ rất phức tạp, chuyên môn theo học trải ra trên một phổ rất rộng, nếu làm những việc trên một cách thủ công nghiệp thì phải hàng trăm thư ký, lại chậm chạp, dễ sai sót, lẫn lộn.
Tóm lại, GDTX sử dụng những phương pháp, công cụ, máy móc hiện đại để chuyển những nội dung khoa học với một phương pháp sư phạm hiện đại đến một số học viên rất đông và có cơ cấu rất phức tạp, nên phải được quản lý kiểu công nghiệp hiện đại thì mọi việc mới ăn khớp, đồng bộ, bảo đảm sự vận hành tốt của cả hệ thống GDTX. Bản thân yêu cầu đó cũng sẽ thúc đẩy con người sớm trưởng thành để đáp ứng cho kịp. Vả chăng hệ thống GDTX cũng là một hệ con của hệ thống giáo dục quốc dân nên sự thúc đẩy trên đây sẽ không chỉ khu trú trong phạm vi GDTX mà sẽ toả ra khắp hệ thống giáo dục quốc dân.
II. Tận dụng sở trường, né tránh sở đoản, chuyển các khó khăn nghèo và đi sau thành thuận lợi
Về GDTX, chúng ta lạc hậu so với các nước trong vùng từ 15 đến 20 năm. Ví dụ, trường §ại học Phát thanh - Truyền hình và hàm thụ của Hàn Quốc (KACỰ) được thành lập năm 1972, trường Đại học mở Sukhothai Thammathirat của Thái Lan được mở năm 1978 còn Đại học mở Hà Nội mới được thành lập năm 1994. Nhưng ta đi sau lại có cái lợi thế của người đi sau. Không nhất thiết chúng ta phải tuần tự tiến những bước từ hàm thụ đến truyền thanh, truyền hình v.v... Dĩ nhiên, chúng ta cũng sẽ dùng truyền thanh (kể cả băng tiếng) và truyền hình (kể cả băng hình) nhưng không coi đó là những bước phải tuần tự đi qua, mà ngay từ đầu có thể đi ngay vào việc sử dụng máy tính điện tử làm công cụ dạy và học. Máy tính điện tử lại đổi mới rất nhanh. Các nước đi trước không dễ gì thanh toán những cái đã lạc hậu để mua cái mới. Ta mua ngay cái mới - đời mới thì ta có lợi thế hơn họ trong việc đón đầu hiện đại; vì vậy ta sẽ thực hiện hai mũi giáp công để xây dựng hệ thống GDTX của đất nước ta.
Hai mũi cần chú ý là:
* Thứ nhất là giáo trình và tài liệu hướng dẫn tự học in ra giấy gửi cho học viên: Sở dĩ coi đây là mũi thứ nhất vì nó rất cơ bản, thiếu gì thì thiếu chứ thiếu nó là không thể có GDTX được. Hơn nữa, nó là công cụ rất quen thuộc ở nước ta, dễ sản xuất, dễ bảo quản và dễ sử dụng (hầu như không cần gì cả, kể cả điện), ngồi đâu cũng học được và có thể tuỳ ý điều chỉnh tốc độ học lại rẻ tiền, dễ phù hợp với túi tiền của mọi người có nhu cầu học.
Đã thế, việc sử dụng tài liệu in hiện nay, tính trung bình, chiếm đến 85% thời gian học của học viên. Nhưng tại sao lại gọi đây là một mũi giáp công khi nó chỉ là một công cụ thông thường? Bởi lẽ nó chỉ là thông thường khi ta xét nó như một sản phẩm vật chất. Còn chất xám chứa đựng trong đó, nhất là trong tài liệu hướng dẫn tự học thì không thông thường chút nào. Làm sao ngồi một chỗ mà viết hướng dẫn tự học cho sát với từng người học trong số rất đông người học khác nhau, ở rải rác khắp nơi? Cứ làm thông thường như trong hàm thụ hay tại chức thì cũng chỉ sản sinh ra được những tài liệu hướng dẫn tự học đại khái, ít tác dụng hướng dẫn. Mà mở ra GDTX thời nay, bên cạnh mặt số lượng, là phải bảo đảm chất lượng ngang với đào tạo chính quy và như Nghị định số 90/CP ngày 24/11/199Ệ của Chính phủ đã quy định, sẽ đa dạng hoá cách học nhưng chỉ có một loại bằng, không còn phân biệt bằng chính quy và bằng không chính quy. Ta đã thấy rằng quy luật năng động thích nghi là một bảo đảm thắng lợi còn những yếu tố khác chỉ đóng vai trò xúc tác. Tôn trọng quy luật năng động thích nghi lại tăng cường sức xúc tác thì càng bảo đảm chất lượng. Mà muốn viết các tài liệu hướng dẫn tự học cho tốt thì cũng phải có những cố gắng theo hướng như đã nói trên ; khi nói đến việc viết các phần mềm dạy học, tuy rằng mức độ chưa cần đến như thế vì chưa sử dụng đến cái nhanh như điện. §ể từ cách viết hướng dẫn tự học thông thường trong học hàm thụ và tại chức trước đây đến cách viết hướng dẫn tự học cho GDTX hiện nay, phải có một sự cố gắng đồng bộ giữa quản lý (chế độ, chính sách để khai thác chất xám về tài năng sư phạm) và chuyên môn (người viết hướng dẫn) và phải rất chú ý đến các yếu tố tâm lý.
* Thứ hai, sử dụng máy tính điện tử làm một công cụ dạy và học -Trong các công cụ sử dụng để dạy và học từ xa, chỉ có tài liệu in và máy tính điện tử là giải quyết được liên hệ ngược, một điều cực kỳ quan trọng trong giáo dục và đào tạo. Nhưng, với tài liệu in thì liên hệ ngược xảy ra rất chậm chạp (thư từ) và rất hạn chế. Chỉ có máy tính điện tử là giải quyết được liên hệ ngược tức thì, kịp thời đầy đủ, người học còn thắc mắc gì thì cứ hỏi tiếp, máy sẽ trả lời. Vì vậy mà người ta hay so sánh việc học với máy tính điện tử với việc đi may đo. May đo thì quần áo rất vừa người. Học với máy tính điện tử thì rất vừa ý vì máy giải đáp đúng các thắc mắc của mình. Chỉ riêng ưu việt đó cũng đã buộc ta phải coi đây là một mũi giáp công thứ hai. Nhưng không phải chỉ có vậy; chọn mũi giáp công này, ta vừa tận dụng được sở trường và né tránh được sở đoản (tạm thời). Sở trường của ta là chất xám và sở đoản của chúng ta (tạm thời) là tiền và cơ sở vật chất. Trong các công cụ giáo khoa phục vụ cho GDTX thì đĩa từ giáo khoa gồm một phần cứng rất rẻ (mỗi đĩa từ trắng - nghĩa là chưa ghi gì vào đó cỡ Ệ60KB giá chỉ khoảng 6000 đồng Việt Nam, nghĩa là rất rẻ và chất xám ghi vào đó rất đắt, xét theo giá lao động trí óc ở các nước phát triển (mà nếu ta nhập thì thường nhập từ các nước phát triển là những nước có giáo dục và khoa học phát triển). Vì nước ta còn nghèo, giá lao động nói chung còn thấp, giá chất xám cũng thấp nên tập trung vào đĩa từ giáo khoa là cách hay nhất để chuyển cái nghèo, là một khó khăn thành thuận lợi. Vì lương của chuyên gia cao cấp ở nước ta (cỡ hơn 100 ỰSD/tháng) chỉ bằng 1/40 lương đồng nghiệp cùng trình độ ở các nước phát triển (cỡ 4000-5000 ỰSD/tháng) nên giá thành của một đĩa từ gốc ở nước ta cũng rẻ hơn ba bốn chục lần một đĩa từ tương đương ở nước phát triển. Qua sản xuất thử ở nước ta, một đĩa gốc, nếu sao ra và tiêu thụ được độ 500 bản thì giá mỗi đĩa sao chỉ cỡ 1,5 ỰSD, nếu tiêu thụ được 1000 bản thì còn rẻ hơn nữa, nhưng nếu mua một đĩa sao cỡ tương đương ở trên thị trường quốc tế thì phải 50 ỰSD.
Tóm lại, so với băng tiếng, băng hình thì đĩa từ giáo khoa hơn hẳn về hai mặt: liên hệ ngược và hàm lượng chất xám, thứ nhất bảo đảm chất lượng học, thứ hai bảo đảm tính kinh tế của GDTX và cho phép khai thác thế mạnh về chất xám của ta.
Nhưng có thật chất xám hiện nay là sở trường của ta không? Nếu xét chất xám ở dạng tiềm năng thì đúng như vậy. Ở tất cả các kỳ thi quốc tế dùng đến chất xám (toán, lý, tin, cờ vua, kiến trúc, âm nhạc...) thì nói chung nước ta chiếm được vị trí khá vẻ vang, nhưng từ tiềm năng đến khả năng còn có một khoảng cách trong đó còn nhiều vấn đề phải xem xét cả trong đào tạo và trong sử dụng. Ở nhiều kỳ thi quốc tế, ta đều đứng trên một số nước phát triển nhưng không thể nói rằng giáo dục và khoa học ở nước ta đã trên họ. Ở đây rõ ràng còn vấn đề trong việc đào tạo tiếp những mầm mống tài năng của ta và việc sử dụng họ sau này. Nói về tài năng sư phạm cũng vậy. Chắc rằng, ở mỗi cấp học, ngành học, môn học, ta đều tìm ra được không nhiều thì ít những tài năng sư phạm. Nhưng chất xám dạy học của họ cũng chỉ mới là tiềm năng. §ể cho tiềm năng đó biến thành các tài liệu hướng dẫn tự học, các phần mềm dạy học tốt cho cả nước cùng hưởng, thì còn nhiều vấn đề về cả phía quản lý, cả về phía giáo viên. Ai cũng ý thức được rằng nước ta còn nghèo, không thể đãi ngộ như ở các nước phát triển, nhưng cũng không nên như hiện nay. Một cộng tác viên tham gia sản xuất thử phần mềm dạy học đã nói: Vì tâm huyết mà tôi làm chứ để thì giờ này đi dạy tư thì thu nhập sẽ gấp ba. Người có tâm huyết còn có những băn khoăn như vậy thì nhất định chất lượng công việc sẽ bị hạn chế bởi họ không thể toàn tâm, toàn ý được khi họ còn băn khoăn lo nghĩ đến những việc khác - ví dụ dạy tư - để mưu sinh. Bởi vậy, tuy vấn đề làm thử sản xuất phần mềm dạy học đã được tự phát đặt ra mấy chục năm nay nhưng tiến bộ rất ì ạch vì thiếu sự ủng hộ của xã hội còn các thầy giáo chẳng mấy ai muốn tham gia vào lĩnh vực Óxương xẩuỎ này, mặc dù nó rất quan trọng. Hiện nay công nghệ thông tin và ứng dụng tin học đã được nhà nước quan tâm, trong đó cũng có hướng dẫn ứng dụng vào giáo dục. Mong rằng hướng ứng dụng CNTT vào giáo dục sẽ được một sự ưu tiên xứng đáng vì giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu.
(Source:
NGUYỄN CẢNH TOÀN - Bản tin GDTX&TC số 16 tháng 3/2008
)
|
|
|
KHƠI NGUỒN LỰC GIÁO DỤC TỪ XA TỪ CÁC TIẾN BỘ KHOA HỌC - KỸ THUẬT
|
|
I. Giáo dục từ xa (GDTX) với các tiến bộ của khoa học sư phạm, của tin học và viễn thông
I. Giáo dục từ xa (GDTX) với các tiến bộ của khoa học sư phạm, của tin học và viễn thông
Trong việc dạy và học truyền thống, công cụ thông tin chủ yếu giữa thầy và trò là lời nói trực tiếp và chữ viết tầm gần vì thầy và trò, ở trên lớp thì giáp mặt nhau, ra khỏi lớp thì cũng ở gần nhau. Khi thầy và trò xa nhau lâu dài thì trước đây chỉ còn công cụ là chữ viết tầm xa (thư từ) khiến cho khoảng cách không gian kéo theo khoảng cách thời gian và nhiều thứ khoảng cách khác, đặc biệt là khoảng cách tâm lý. Chính khoảng cách không gian trước đây đã cản trở rất nhiều sự phát triển giáo dục vì điều kiện để dạy được và học được là thầy và trò phải có mặt cùng một lúc và cùng một nơi. Ịêu cầu cùng một lúc và cùng một nơi sinh ra rất lắm yêu cầu khác như trường sở, đi lại, ăn ở. Nếu khắc phục được khoảng cách không gian bằng thư từ thì lại sinh ra trước hết khoảng cách thời gian và hạn chế việc tiếp nhận tri thức vì dung lượng của các tài liệu viết rất thấp. Vì vậy, để tạo điều kiện học dễ dàng cho nhiều người, người ta phải tập trung nghiên cứu việc khắc phục khoảng cách càng ngày càng tốt hơn: truyền thanh, truyền hình rồi băng tiếng, băng hình. Những phương tiện này rõ ràng có hỗ trợ vào việc khắc phục khoảng cách nhưng đều có nhược điểm là không giải quyết được liên hệ ngược là điều cực kỳ quan trọng trong dạy và học: người học có thắc mắc gì không hỏi được các máy thu thanh, thu hình để điều chỉnh việc học cho kịp thời, người dạy cũng chả biết những người nghe mình, thấy mình để học qua các máy thu thanh, thu hình có thắc mắc không. Phải đến máy tính điện tử và trí tuệ nhân tạo mới giải quyết được liên hệ ngược.
Ngày nay, với các tiến bộ của tin học và viễn thông, người ta có thể tổ chức những lớp học tập trung mà người giảng bài ở xa nhưng trong quá trình giảng, thầy, trò, khi cần, có thể đối thoại với nhau được. Tuy nhiên, cách này khá tốn kém và việc đối thoại trực tiếp vẫn bị hạn chế như ở các lớp tập trung truyền thống; rẻ hơn và tốt hơn là người học thắc mắc gì thì cứ nạp thắc mắc vào máy và sẽ nhận được ngay lời hướng dẫn, giải đáp trên màn hình của máy. Máy làm được như vậy là nhờ có thầy chuẩn bị cho nó. Một sự chuẩn bị như vậy là hết sức công phu. Thầy dạy giỏi, rất nhiều kinh nghiệm chỉ mới là điều kiện cần nhưng chưa đủ để viết được những phần mềm dạy học tốt đem ghi vào các đĩa từ cho người học cài vào máy tính điện tử mà học. Ngoài tiêu chuẩn giỏi và giàu kinh nghiệm dạy học ra, thầy còn phải tâm huyết đầu tư nhiều thì giờ và công sức với một tác phong làm việc công nghiệp. Cũng một ông thầy đó, nhưng công phu chuẩn bị soạn bài lên lớp với đầy đủ tinh thần trách nhiệm, sẽ không thấm gì so với công sức bỏ ra để viết phần mềm dạy học sao cho máy tính điện tử có thể giải đáp mọi thắc mắc của người học. Bởi lẽ người soạn bài lên lớp có tinh thần trách nhiệm cũng chỉ phụ trách dạy cho một vài lớp, mỗi lớp cỡ vài chục học sinh. Dĩ nhiên, khi soạn bài, thầy đã hình dung trước quá trình lên lớp sẽ xảy ra, chuẩn bị trước sự giải đáp v.v..., nhưng cũng chỉ một mức nào đó mà thôi, đến khi lên lớp sẽ tuỳ cơ mà ứng biến. Chính vì chịu trách nhiệm trước một số học sinh không đông lắm, lại có điều kiện giáp mặt với họ khi lên lớp nên sự chuẩn bị dù chu đáo đến đâu cũng chỉ đến một giới hạn nào đó mà thôi. Trái lại, người viết phần mềm dạy học không chỉ phục vụ cho một vài lớp học, mà phục vụ cho cả nước, có khi đến hàng nghìn, hàng vạn người học theo cùng một giáo trình, nên trách nhiệm rất lớn, đã thế lại không có lên lớp giáp mặt học sinh để mà tuỳ cơ ứng biến cho nên việc hình dung trước những tình huống có thể xảy đến cho từng người học để chuẩn bị cho máy tính thay mình mà hướng dẫn, giải đáp cho người học là một việc khó khăn và công phu. Trước hết là phải biết lựa chọn vấn đề vì không phải phần nào trong giáo trình cũng học qua máy tính điện tử; người học nào cũng có giáo trình và tài liệu in hướng dẫn tự học; nếu xét thấy rằng những phần nào, tuyệt đại đa số người học đều có thể học với tài liệu in mà không gặp khó khăn gì thì những phần đó cho qua, chỉ giữ lại những phần xét thấy rằng, người học muốn hiểu thấu đáo phải có đối thoại với thầy và thầy sẽ chuẩn bị sao cho máy có thể thay mình làm việc đối thoại đó. Như vậy việc lựa chọn vấn đề cũng không đơn giản. §ối với mỗi vấn đề đã cân nhắc để lựa chọn, phải chuẩn bị kịch bản đối thoại. Việc này cũng không thể đơn giản là lục lọi trong vốn kinh nghiệm dạy về vấn đề đó rồi ngồi mà viết ra vì như vậy, sự lường trước vẫn có thể không sát.
Phải làm việc theo một tác phong công nghiệp là xây dựng ngân hàng các thắc mắc của người học bằng cách tích luỹ dần qua quá trình dạy của mình (với sự cộng tác của các trợ giảng), bước đầu là tích luỹ thô, nghĩa là cứ thu thập để đó đã, sau đó mới xử lý tinh như xem xét tần số xuất hiện của từng thắc mắc, chọn ra những thắc mắc có tần số xuất hiện vượt qua một giới hạn nào đó (tức là loại đi những thắc mắc hiếm, họa lắm mới có). Mỗi thắc mắc như vậy sẽ được đem xử lý "tinh", nghĩa là có một sự nghiên cứu giải đáp sao cho hay nhất, phù hợp nhất với từng loại đối tượng (như giải đáp cho học sinh kém khác giải đáp cho học sinh trung bình, giải đáp cho học sinh trung bình khác giải đáp cho học sinh khá, giỏi v.v...). Chính những ngân hàng được chuẩn bị sẵn như vậy là kho tư liệu để người viết phần mềm dạy học chuẩn bị cho người học đối thoại với máy tính điện tử. Như vậy vẫn chưa đủ. Viết xong kịch bản, để cho sát hơn, phải đem ra thử với những người học giáp mặt với mình thuộc đủ các loại để xem họ phản ứng ra sao, trên cơ sở đó mà hoàn chỉnh thêm kịch bản.
Tất nhiên, máy tính là vật vô tri, nó làm việc đối thoại đó hay, dở đến đâu là do thầy giáo chuẩn bị cho nó. Dù thầy chuẩn bị cho nó tốt đến đâu thì phần mềm dạy học cũng khó linh hoạt tuỳ cơ ứng biến như thầy. Khi giáp mặt trò nó chỉ ứng biến được trong chừng mực thầy chuẩn bị cho nó. Tuy nhiên phải thấy rằng, việc chuẩn bị phần mềm dạy học cho máy tính buộc thầy giáo phải lao động công phu hơn là soạn bài nhiều, do vậy mà hút được chất xám của thầy nhiều hơn. Nếu ta ví chất xám dạy học của thầy như chất đường trong cây mía thì soạn bài bình thường chỉ là một máy ép mía thô sơ còn viết phần mềm dạy học là một máy ép tinh vi và nó càng tinh vi nếu lại có thêm những chính sách thoả đáng thu hút các tài năng sư phạm, để các tài năng đó khỏi phải phân tán.
Trên đây là mới nói đến lao động sư phạm của thầy giáo. Nó còn phải tiếp tục bằng lao động tin học để các ngữ cảnh đối thoại ghi trên giấy chuyển thành những tín hiệu có thể ghi vào đĩa từ để cài vào máy tính điện tử. Lao động tin học này trước đây cũng vất vả không kém lao động sư phạm.
Tuy nhiên ngày nay, nó đã có thể tự động hoá nhờ những phần mềm (cũng được ghi vào đĩa từ) gọi là phần mềm hệ thống sản xuất phần mềm dạy học. Một người không có chuyên môn về tin học cũng có thể học trong một thời gian rất ngắn để sử dụng nhằm chuyển sản phẩm lao động sư phạm của mình thành sản phẩm có thể ghi vào đĩa từ. Trong đó đĩa từ gốc ghi phần mềm dạy học thường có cả khoá chống sao chép để bảo vệ quyền tác giả vì nếu không giải mã được khoá thì không thể sao được bản gốc. Các bản sao được bán trên thị trường và cơ chế thị trường cũng góp phần vào việc sàng lọc: nếu hai thầy giáo cùng viết các phần mềm dạy học cho một giáo trình nào đó thì người mua sẽ tìm mua phần mềm nào có chất lượng hơn, giống như nếu để cho học sinh chọn thầy thì thầy giỏi sẽ đông người học hơn.
Nếu các máy tính điện tử được nối mạng và nếu ở cơ sở dữ liệu trung tâm có đĩa từ gì thì ở các máy tính cuối không cần có các đĩa từ đó nữa. Vì các đĩa từ quang học có sức chứa rất lớn, mỗi đĩa có thể chứa cả một bộ đại từ điển bách khoa, nên các cơ sở dữ liệu lớn có thể chứa trong các đĩa từ của chúng toàn bộ các sách trong những thư viện lớn và do đó ngồi một nơi có thể trong chốc lát với đến những gì mình cần có ở các thư viện xa hàng vạn dặm.
Các phần mềm dạy học không chỉ có tác dụng trong GDTX mà có tác dụng đến cả giáo dục truyền thống, vì một đĩa từ được sản xuất ra công phu như vậy cũng sẽ giúp ích rất nhiều cho các thầy soạn bài lên lớp. Hơn nữa các thầy lên lớp có thể sử dụng các đĩa từ đó để tự giải phóng cho mình khỏi nhiệm vụ truyền thụ kiến thức (giao cho máy tính) còn mình thì có thì giờ để rèn óc thông minh cho học sinh. §iều này có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng khi ta nghĩ rằng hiện nay, thầy giáo ở nước ta dành đến 90% thì giờ để truyền thụ kiến thức, chỉ còn độ 10% thì giờ để rèn trí thông minh.
Lướt qua một chút về những tiến bộ khoa học kỹ thuật được vận dụng trong GDTX, ta thấy ngay rằng sự vận dụng đó phải đi đôi với những tiến bộ về quản lý, cụ thể là phải có tác phong về tổ chức quản lý kiểu công nghiệp hiện đại. Ngay một việc chưa đòi hỏi máy móc gì như lao động sư phạm để viết phần mềm dạy học cũng đòi hỏi một tác phong công nghiệp như trên đã trình bày, chưa nói đến những việc như quản lý một cơ sở dữ liệu mà trong đó riêng việc chống ẩm, chống virut đã không chấp nhận tác phong thủ công nghiệp, hay một việc tưởng chừng rất đơn giản như việc ghi địa chỉ để gửi các sản phẩm giáo khoa cho học viên cũng phải tự động hoá từ khâu lưu trữ các địa chỉ, lấy ra, in, dán vào phong bì, đưa phong bì vào thùng để chở ra bưu điện. Quả vậy, khi GDTX đã phát triển thì một trung tâm quốc gia ở một nước cỡ hơn 80 triệu dân như nước ta, số học viên có thể là hàng trăm nghìn, cơ cấu trình độ rất phức tạp, chuyên môn theo học trải ra trên một phổ rất rộng, nếu làm những việc trên một cách thủ công nghiệp thì phải hàng trăm thư ký, lại chậm chạp, dễ sai sót, lẫn lộn.
Tóm lại, GDTX sử dụng những phương pháp, công cụ, máy móc hiện đại để chuyển những nội dung khoa học với một phương pháp sư phạm hiện đại đến một số học viên rất đông và có cơ cấu rất phức tạp, nên phải được quản lý kiểu công nghiệp hiện đại thì mọi việc mới ăn khớp, đồng bộ, bảo đảm sự vận hành tốt của cả hệ thống GDTX. Bản thân yêu cầu đó cũng sẽ thúc đẩy con người sớm trưởng thành để đáp ứng cho kịp. Vả chăng hệ thống GDTX cũng là một hệ con của hệ thống giáo dục quốc dân nên sự thúc đẩy trên đây sẽ không chỉ khu trú trong phạm vi GDTX mà sẽ toả ra khắp hệ thống giáo dục quốc dân.
II. Tận dụng sở trường, né tránh sở đoản, chuyển các khó khăn nghèo và đi sau thành thuận lợi
Về GDTX, chúng ta lạc hậu so với các nước trong vùng từ 15 đến 20 năm. Ví dụ, trường §ại học Phát thanh - Truyền hình và hàm thụ của Hàn Quốc (KACỰ) được thành lập năm 1972, trường Đại học mở Sukhothai Thammathirat của Thái Lan được mở năm 1978 còn Đại học mở Hà Nội mới được thành lập năm 1994. Nhưng ta đi sau lại có cái lợi thế của người đi sau. Không nhất thiết chúng ta phải tuần tự tiến những bước từ hàm thụ đến truyền thanh, truyền hình v.v... Dĩ nhiên, chúng ta cũng sẽ dùng truyền thanh (kể cả băng tiếng) và truyền hình (kể cả băng hình) nhưng không coi đó là những bước phải tuần tự đi qua, mà ngay từ đầu có thể đi ngay vào việc sử dụng máy tính điện tử làm công cụ dạy và học. Máy tính điện tử lại đổi mới rất nhanh. Các nước đi trước không dễ gì thanh toán những cái đã lạc hậu để mua cái mới. Ta mua ngay cái mới - đời mới thì ta có lợi thế hơn họ trong việc đón đầu hiện đại; vì vậy ta sẽ thực hiện hai mũi giáp công để xây dựng hệ thống GDTX của đất nước ta.
Hai mũi cần chú ý là:
* Thứ nhất là giáo trình và tài liệu hướng dẫn tự học in ra giấy gửi cho học viên: Sở dĩ coi đây là mũi thứ nhất vì nó rất cơ bản, thiếu gì thì thiếu chứ thiếu nó là không thể có GDTX được. Hơn nữa, nó là công cụ rất quen thuộc ở nước ta, dễ sản xuất, dễ bảo quản và dễ sử dụng (hầu như không cần gì cả, kể cả điện), ngồi đâu cũng học được và có thể tuỳ ý điều chỉnh tốc độ học lại rẻ tiền, dễ phù hợp với túi tiền của mọi người có nhu cầu học.
Đã thế, việc sử dụng tài liệu in hiện nay, tính trung bình, chiếm đến 85% thời gian học của học viên. Nhưng tại sao lại gọi đây là một mũi giáp công khi nó chỉ là một công cụ thông thường? Bởi lẽ nó chỉ là thông thường khi ta xét nó như một sản phẩm vật chất. Còn chất xám chứa đựng trong đó, nhất là trong tài liệu hướng dẫn tự học thì không thông thường chút nào. Làm sao ngồi một chỗ mà viết hướng dẫn tự học cho sát với từng người học trong số rất đông người học khác nhau, ở rải rác khắp nơi? Cứ làm thông thường như trong hàm thụ hay tại chức thì cũng chỉ sản sinh ra được những tài liệu hướng dẫn tự học đại khái, ít tác dụng hướng dẫn. Mà mở ra GDTX thời nay, bên cạnh mặt số lượng, là phải bảo đảm chất lượng ngang với đào tạo chính quy và như Nghị định số 90/CP ngày 24/11/199Ệ của Chính phủ đã quy định, sẽ đa dạng hoá cách học nhưng chỉ có một loại bằng, không còn phân biệt bằng chính quy và bằng không chính quy. Ta đã thấy rằng quy luật năng động thích nghi là một bảo đảm thắng lợi còn những yếu tố khác chỉ đóng vai trò xúc tác. Tôn trọng quy luật năng động thích nghi lại tăng cường sức xúc tác thì càng bảo đảm chất lượng. Mà muốn viết các tài liệu hướng dẫn tự học cho tốt thì cũng phải có những cố gắng theo hướng như đã nói trên ; khi nói đến việc viết các phần mềm dạy học, tuy rằng mức độ chưa cần đến như thế vì chưa sử dụng đến cái nhanh như điện. §ể từ cách viết hướng dẫn tự học thông thường trong học hàm thụ và tại chức trước đây đến cách viết hướng dẫn tự học cho GDTX hiện nay, phải có một sự cố gắng đồng bộ giữa quản lý (chế độ, chính sách để khai thác chất xám về tài năng sư phạm) và chuyên môn (người viết hướng dẫn) và phải rất chú ý đến các yếu tố tâm lý.
* Thứ hai, sử dụng máy tính điện tử làm một công cụ dạy và học -Trong các công cụ sử dụng để dạy và học từ xa, chỉ có tài liệu in và máy tính điện tử là giải quyết được liên hệ ngược, một điều cực kỳ quan trọng trong giáo dục và đào tạo. Nhưng, với tài liệu in thì liên hệ ngược xảy ra rất chậm chạp (thư từ) và rất hạn chế. Chỉ có máy tính điện tử là giải quyết được liên hệ ngược tức thì, kịp thời đầy đủ, người học còn thắc mắc gì thì cứ hỏi tiếp, máy sẽ trả lời. Vì vậy mà người ta hay so sánh việc học với máy tính điện tử với việc đi may đo. May đo thì quần áo rất vừa người. Học với máy tính điện tử thì rất vừa ý vì máy giải đáp đúng các thắc mắc của mình. Chỉ riêng ưu việt đó cũng đã buộc ta phải coi đây là một mũi giáp công thứ hai. Nhưng không phải chỉ có vậy; chọn mũi giáp công này, ta vừa tận dụng được sở trường và né tránh được sở đoản (tạm thời). Sở trường của ta là chất xám và sở đoản của chúng ta (tạm thời) là tiền và cơ sở vật chất. Trong các công cụ giáo khoa phục vụ cho GDTX thì đĩa từ giáo khoa gồm một phần cứng rất rẻ (mỗi đĩa từ trắng - nghĩa là chưa ghi gì vào đó cỡ Ệ60KB giá chỉ khoảng 6000 đồng Việt Nam, nghĩa là rất rẻ và chất xám ghi vào đó rất đắt, xét theo giá lao động trí óc ở các nước phát triển (mà nếu ta nhập thì thường nhập từ các nước phát triển là những nước có giáo dục và khoa học phát triển). Vì nước ta còn nghèo, giá lao động nói chung còn thấp, giá chất xám cũng thấp nên tập trung vào đĩa từ giáo khoa là cách hay nhất để chuyển cái nghèo, là một khó khăn thành thuận lợi. Vì lương của chuyên gia cao cấp ở nước ta (cỡ hơn 100 ỰSD/tháng) chỉ bằng 1/40 lương đồng nghiệp cùng trình độ ở các nước phát triển (cỡ 4000-5000 ỰSD/tháng) nên giá thành của một đĩa từ gốc ở nước ta cũng rẻ hơn ba bốn chục lần một đĩa từ tương đương ở nước phát triển. Qua sản xuất thử ở nước ta, một đĩa gốc, nếu sao ra và tiêu thụ được độ 500 bản thì giá mỗi đĩa sao chỉ cỡ 1,5 ỰSD, nếu tiêu thụ được 1000 bản thì còn rẻ hơn nữa, nhưng nếu mua một đĩa sao cỡ tương đương ở trên thị trường quốc tế thì phải 50 ỰSD.
Tóm lại, so với băng tiếng, băng hình thì đĩa từ giáo khoa hơn hẳn về hai mặt: liên hệ ngược và hàm lượng chất xám, thứ nhất bảo đảm chất lượng học, thứ hai bảo đảm tính kinh tế của GDTX và cho phép khai thác thế mạnh về chất xám của ta.
Nhưng có thật chất xám hiện nay là sở trường của ta không? Nếu xét chất xám ở dạng tiềm năng thì đúng như vậy. Ở tất cả các kỳ thi quốc tế dùng đến chất xám (toán, lý, tin, cờ vua, kiến trúc, âm nhạc...) thì nói chung nước ta chiếm được vị trí khá vẻ vang, nhưng từ tiềm năng đến khả năng còn có một khoảng cách trong đó còn nhiều vấn đề phải xem xét cả trong đào tạo và trong sử dụng. Ở nhiều kỳ thi quốc tế, ta đều đứng trên một số nước phát triển nhưng không thể nói rằng giáo dục và khoa học ở nước ta đã trên họ. Ở đây rõ ràng còn vấn đề trong việc đào tạo tiếp những mầm mống tài năng của ta và việc sử dụng họ sau này. Nói về tài năng sư phạm cũng vậy. Chắc rằng, ở mỗi cấp học, ngành học, môn học, ta đều tìm ra được không nhiều thì ít những tài năng sư phạm. Nhưng chất xám dạy học của họ cũng chỉ mới là tiềm năng. §ể cho tiềm năng đó biến thành các tài liệu hướng dẫn tự học, các phần mềm dạy học tốt cho cả nước cùng hưởng, thì còn nhiều vấn đề về cả phía quản lý, cả về phía giáo viên. Ai cũng ý thức được rằng nước ta còn nghèo, không thể đãi ngộ như ở các nước phát triển, nhưng cũng không nên như hiện nay. Một cộng tác viên tham gia sản xuất thử phần mềm dạy học đã nói: Vì tâm huyết mà tôi làm chứ để thì giờ này đi dạy tư thì thu nhập sẽ gấp ba. Người có tâm huyết còn có những băn khoăn như vậy thì nhất định chất lượng công việc sẽ bị hạn chế bởi họ không thể toàn tâm, toàn ý được khi họ còn băn khoăn lo nghĩ đến những việc khác - ví dụ dạy tư - để mưu sinh. Bởi vậy, tuy vấn đề làm thử sản xuất phần mềm dạy học đã được tự phát đặt ra mấy chục năm nay nhưng tiến bộ rất ì ạch vì thiếu sự ủng hộ của xã hội còn các thầy giáo chẳng mấy ai muốn tham gia vào lĩnh vực Óxương xẩuỎ này, mặc dù nó rất quan trọng. Hiện nay công nghệ thông tin và ứng dụng tin học đã được nhà nước quan tâm, trong đó cũng có hướng dẫn ứng dụng vào giáo dục. Mong rằng hướng ứng dụng CNTT vào giáo dục sẽ được một sự ưu tiên xứng đáng vì giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu.
(Source:
NGUYỄN CẢNH TOÀN - Bản tin GDTX&TC số 16 tháng 3/2008
)
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|