Welcome to International Physics Olympiad 2008, Hanoi-Vietnam  
Số lượt truy cập
150889
    07 Tháng Giêng 2009 | Đăng Ký, Đăng Nhập | SiteMap   Tìm Kiếm
    Bản tin từ xa và tại chức » Diễn đàn giáo dục
GIÁO DỤC NĂNG LỰC TỰ ĐÀO TẠO CỦA NGƯỜI HỌC
1. Giáo dục năng lực tự đào tạo của người học là một phương thức giáo dục cơ bản, trong đó, nhà trường và xã hội tạo ra các nhân tố có tính quy định việc hình thành, phát triển nhân cách, tính tự chủ, tự sáng tạo và tự chịu trách nhiệm của người học đối với mọi hoạt động học tập, nhận thức khoa học, hoạt động sống của chính mình.


1. Giáo dục năng lực tự đào tạo của người học là một phương thức giáo dục cơ bản, trong đó, nhà trường và xã hội tạo ra các nhân tố có tính quy định việc hình thành, phát triển nhân cách, tính tự chủ, tự sáng tạo và tự chịu trách nhiệm của người học đối với mọi hoạt động học tập, nhận thức khoa học, hoạt động sống của chính mình.

 

          Trong lịch sử giáo dục của dân tộc ta, năng lực tự đào tạo, tự học đã được xem là cách học hữu hiệu nhất để nắm vững đạo lý thánh hiền và kinh văn của thánh nhân. Học trò phải biết Không thầy đố mày làm nên, nhưng phải Học một biết mười; trở thành hiền tài quốc gia đâu chỉ do sôi kinh nấu sử mà còn do biết quyền biến, kinh bang tế thế. Ở bối cảnh hội nhập, toàn cầu hoá hiện nay, khi mà toàn cộng đồng nhân loại, cũng như mỗi dân tộc và từng cá nhân phải tự quyết định vận mệnh của mình trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá, văn minh, thì yêu cầu xây dựng nhân cách, bồi dưỡng con người có năng lực tự đào tạo, phát huy nội lực càng trở nên tất yếu và cấp thiết. Phương thức tự đào tạo trong nhà trường xã hội chủ nghĩa chính là một cách đi có tính khoa học và thực tiễn trên con đường tạo ra một nguồn nhân lực có khả năng chủ động, tích cực, sáng tạo, nhằm đáp ứng mục tiêu Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Từ đó đem lại lợi ích cho dân tộc, cho nhân dân trong công cuộc đổi mới và trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

 

          Đảng ta đã chỉ ra định hướng phát triển giáo dục hiện nay là: Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học. Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh, sinh viên [1, 207]. Giáo dục năng lực tự đào tạo của người học chính là nhằm thực hiện yêu cầu trên.

 

          2. Những yếu tố sau đây có thể được xem là những phẩm chất cấu thành năng lực tự đào tạo của người học (học sinh, sinh viên và các thành phần học viên khác):

 

        2.1. Tiếp nhận được trọn vẹn, có chiều sâu những tri thức khoa học đã có, đang có và tri thức dự báo của ngành học, tương ứng với sự phát triển như vũ bão của khoa học hiện đại (tuỳ theo yêu cầu của cấp học và định mức chuyên môn). Những tri thức khoa học này là nền tảng của nhận thức khoa học, công cụ, tư liệu của sự biến đổi thành tri thức khoa học mới; người học có thể nhào nặn lại, chuyển hoá chúng thành cái của mình, cho mình. Ở đây, tri thức khoa học được xem là tiêu chí đầu tiên và cơ bản để đánh giá ý thức tự đào tạo của người học, đánh giá hoạt động giáo dục tri thức, tạo tiền đề quy định ý thức lao động nghề nghiệp sau này của người học. Như C.Mác đã xác định, tri thức là phương thức theo đó ý thức tồn tại và theo đó một cái gì đó nảy sinh ra đối với ý thức. Cho nên, một cái gì đó nảy sinh ra đối với ý thức chừng nào ý thức biết cái đó [2, 204]. Việc tự trang bị tri thức khoa học gồm tiếp nhận, xử lý, kiểm nghiệm, dung nạp các loại tri thức cơ bản, tư liệu, ứng dụng, công nghệ thông tin, kỹ thuật, chuyên ngành, liên ngành, nghề nghiệp; trong đó có sự kết hợp hợp lý giữa tri thức khoa học cổ truyền và hiện đại, dân tộc và quốc tế, thông dụng và cao cấp, sáng tạo cá nhân và sáng tạo tập thể. Quá trình tự làm giàu trí tuệ trên cần được thực hiện thường xuyên, liên tục, hệ thống, đa dạng theo một định hướng vừa có tính cấp thiết, vừa có tính chiến lược.

 

          2.2. Vốn liếng về thực tiễn là cơ sở, động lực, chất liệu, nội dung, tiêu chuẩn chân lý và mục tiêu của toàn bộ quá trình tự đào tạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông [3, 496]. Đây cũng là bước chuẩn bị cần thiết để người học sau này hành nghề, hoạt động xã hội phù hợp với yêu cầu phát triển. §ương nhiên, người học có thể nắm bắt thực tiễn một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, cũng như mỗi lứa tuổi tiểu học cũng có thể nhìn thấy thực tiễnhọc theo thực tiễn. Trong bối cảnh toàn cầu hoá mọi hoạt động tự đào tạo, bồi đắp khả năng tự điều chỉnh cá nhân trong quan hệ kinh tế, văn hoá, mọi quan hệ sống nói chung (học tập, nghiên cứu khoa học, tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, sinh hoạt cộng đồng) nhằm phù hợp với yêu cầu của phát triển con người và xã hội. Có thể xem tự ý thức là bộ não và huyết mạch của tất cả các hoạt động tự đào tạo của người học.

 

          2.3. Nhân cách mới là nhân cách của con người xã hội chủ nghĩa. Phẩm chất của nhân cách này có nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với tinh thần nhân văn: tất cả vì con người. Nhân cách mới vừa là nội dung đào tạo và tự đào tạo, vừa là mục tiêu chủ yếu, cơ bản của toàn bộ hoạt động giáo dục hiện nay. Quá trình tự đào tạo cần xem đó là động lực, định hướng, đem lại giá trị đích thực cho người học - cá nhân và xã hội nói chung. Đây cũng là điểm tựa và thước đo để tự đào tạo không chạy theo mục tiêu, mục đích sống của chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, độc tôn lợi ích riêng. Nhân tố nhân cách mới trên đây chính là nhằm đáp ứng yêu cầu giáo dục của nước ta hiện nay: Coi trọng bồi dưỡng cho học sinh, sinh viên khát vọng mãnh liệt xây dựng đất nước giàu mạnh, gắn liền lập nghiệp bản thân với tương lai của cộng đồng, của dân tộc, trau dồi cho học sinh, sinh viên bản lĩnh, phẩm chất và lối sống của thế hệ trẻ Việt Nam hiện đại [1, 207].

 

          3. Về thực chất, tự đào tạo là mối quan hệ giáo dục giữa nhà trường, bộ máy quản lý giáo dục và đào tạo với xã hội người học - người được đào tạo, người tự đào tạo. Trong quan hệ trên, nhà trường, bộ máy vĩ mô và cộng đồng xã hội (bao gồm cả gia đình, tổ chức hội, cơ quan hành chính, công ty) là những nhân tố, điều kiện, tiền đề khách quan, đóng vai trò cơ sở, môi trường, hướng dẫn và định hướng, cùng với những hiệu quả, giá trị được thụ hưởng, tiếp nhận từ sản phẩm tự đào tạo (nhân lực tri thức).

 

         Việc giáo dục, giảng dạy ở nhà trường được xem là nhân tố khách quan trọng yếu nhất để người học tự đào tạo có hiệu quả tối ưu. Nội dung, phương pháp giảng dạy, giáo dục, tổ chức, quản lý, thiết chế của toàn bộ hệ thống nhà trường cần hướng vào những nguyên lý, nguyên tắc của nhận thức khoa học, giáo dục mang tính đổi mới của sự nghiệp cách mạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đối với giáo viên, yêu cầu giảng dạy theo hướng tự đào tạo của học sinh, sinh viên, học viên - người học, tập trung ở những điểm chủ yếu: 1. Làm chủ được những tri thức khoa học, phương pháp giảng dạy hiện đại, tiến bộ tương ứng với khả năng tiếp nhận của người học; 2. Từ những tri thức khoa học cơ bản, chủ yếu và nhận thức cuộc sống thực tiễn, người dạy hướng dẫn, gợi mở, khuyến khích, phát huy, định hướng cho người học tự xác định những tri thức mới, nhận thức mới, hoạt động mới mang tính tự giác, tự sáng tạo, tự khẳng định và tự hoàn thiện chúng; 3. Nội dung giảng dạy và phương pháp nhận thức luôn đặt trong tam giác quan hệ: khoa học, giáo dục - hiện thực, thực tiễn - năng lực tiếp nhận, đặc điểm tự ý thức, nhận thức, hoạt động nhiều mặt của người học; 4. Chú trọng truy cập, chuyển tải, phân tích, tổng hợp, khái quát những thông tin khoa học mới, những thành tựu tri thức, trí tuệ đang hiện diện, những dự báo khoa học và xã hội; tất cả đều được người học tiếp cận thông qua vai trò của người dạy; 5. Đem lại cho người học một phương pháp tư duy mở, độngsáng tạo - một tư duy biện chứng nhằm tạo cho họ luôn thích ứng, năng động trước sự phát triển của khoa học hiện đại và thực tiễn xã hội (kể cả thực tiễn nghề nghiệp). Đồng thời, người dạy cần tạo ra và thừa nhận các cách học khác nhau của người học, điều đó sẽ giúp người dạy hướng dẫn, định hướng phù hợp với sự nhận thức mang tính đặc thù của đối tượng - người học khác nhau.

 

          Nhà trường, với vị thế tổ chức, quản lý giáo dục cần tạo ra một cơ chế bồi dưỡng, đánh giá, điều kiện vật chất và tinh thần để người học có thể phát huy được năng lực tự đào tạo của mình. Chẳng hạn, có chế độ riêng, khác biệt đối với những học sinh, sinh viên, học viên chậm hiểu, không thông minh hoặc tiếp thu nhanh, có năng khiếu, tài năng trẻ, tuỳ theo năng lực, điều kiện khác biệt  giữa họ.

 

          Ở cấp vĩ mô, cấp điều hành, quản lý và lãnh đạo giáo dục và đào tạo, những thể chế, quy định, quyết định, đường lối, chính sách, luật lệnh, chiến lược và cả những pháp lệnh cụ thể về tuyển sinh, chương trình, sách giáo khoa, tiêu chuẩn tốt nghiệp được đề ra và đòi hỏi thực thi, xét kỹ, đều liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến người học - tự đào tạo. Giá trị của sản phẩm giáo dục, của tự đào tạo nói riêng, không thể không phụ thuộc vào những nhân tố có tính quy định nói trên. Bởi vậy, tìm ra một sách lược, một giải pháp tối ưu, phù hợp với những quy định ấy là điều rất đáng quan tâm. Chẳng hạn, lối thi cử, kiểm tra ở bậc đại học theo tự luận, tự suy luận, đề xuất những luận điểm, kiến giải của cá nhân, chắc chắn đem lại hiệu quả đánh giá hợp lý, đúng đắn. Sự chi phối có tính quyết định của cấp vĩ mô đối với tự đào tạo có ý nghĩa sống còn đối với toàn bộ quá trình giáo dục, tạo ra cả một thế hệ làm nguồn nhân lực tri thức cho xã hội. Đối với ngành giáo dục và đào tạo, Đảng ta đã chỉ rõ: Đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, có chế quản lý để tạo được chuyển biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà, tiếp cận với trình độ giáo dục của khu vực và thế giới; khắc phục cách đổi mới chắp vá, thiếu tầm nhìn tổng thể, thiếu kế hoạch đồng bộ [1, 206].

 

          Trên bình diện xã hội chung, phương thức tự đào tạo mở ra chiều hướng xã hội hóa giáo dục đối với tiềm năng lao động tri thức khi người học bằng nỗ lực cá nhân có thể tiến thân trên con đường hiếu học trong những điều kiện vật chất, sinh hoạt nhất định (còn không ít thiếu thốn, khó khăn) do xã hội tạo ra. Ở đây, sự nhận thức, tâm lý, quan niệm đúng đắn về tự đào tạo là nhân tố quy định đầu tiên đối với trách nhiệm của toàn cộng đồng, xã hội. Nếu tự đào tạo trong hoạt động giáo dục đem lại những giá trị thực tiễn đối với xã hội từ nguồn lao động tri thức do nó cung cấp thì cũng có nghĩa xã hội cần có nghĩa vụ đáp ứng những yêu cầu tạo ra nó. Đầu tư thích đáng về điều kiện vật chất cũng như điều kiện tinh thần, môi trường văn hoá, chính trị, kinh tế, là cơ sở không thể thiếu để người học tự khẳng định năng lực tự chủ, phương tiện học tập, truyền thông dưới sự hướng dẫn, kiểm tra của nhà trường, cơ sở, trung tâm đào tạo giáo dục và nghiệp vụ.

 

          Cách đây hơn nửa thế kỷ, Bác Hồ đã căn dặn giới trí thức: Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân [3, 215]. Như thế, tự đào tạo là một phương thức để học và hành nêu trên.

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006. Người viết nhấn mạnh.

 

[2] C.Mác. Bản thảo kinh tế - triết học 1844, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1962.

[3] Hồ Chí Minh. Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, Tập 8.
(Source: VŨ MINH TÂM - Trường ĐHSP Hà Nội - Bản tin GDTX&TC số 16 - tháng 3/2008 )
Read on >>
  
  

Read on >>
  
  
  
  
GIÁO DỤC NĂNG LỰC TỰ ĐÀO TẠO CỦA NGƯỜI HỌC
1. Giáo dục năng lực tự đào tạo của người học là một phương thức giáo dục cơ bản, trong đó, nhà trường và xã hội tạo ra các nhân tố có tính quy định việc hình thành, phát triển nhân cách, tính tự chủ, tự sáng tạo và tự chịu trách nhiệm của người học đối với mọi hoạt động học tập, nhận thức khoa học, hoạt động sống của chính mình.


1. Giáo dục năng lực tự đào tạo của người học là một phương thức giáo dục cơ bản, trong đó, nhà trường và xã hội tạo ra các nhân tố có tính quy định việc hình thành, phát triển nhân cách, tính tự chủ, tự sáng tạo và tự chịu trách nhiệm của người học đối với mọi hoạt động học tập, nhận thức khoa học, hoạt động sống của chính mình.

 

          Trong lịch sử giáo dục của dân tộc ta, năng lực tự đào tạo, tự học đã được xem là cách học hữu hiệu nhất để nắm vững đạo lý thánh hiền và kinh văn của thánh nhân. Học trò phải biết Không thầy đố mày làm nên, nhưng phải Học một biết mười; trở thành hiền tài quốc gia đâu chỉ do sôi kinh nấu sử mà còn do biết quyền biến, kinh bang tế thế. Ở bối cảnh hội nhập, toàn cầu hoá hiện nay, khi mà toàn cộng đồng nhân loại, cũng như mỗi dân tộc và từng cá nhân phải tự quyết định vận mệnh của mình trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá, văn minh, thì yêu cầu xây dựng nhân cách, bồi dưỡng con người có năng lực tự đào tạo, phát huy nội lực càng trở nên tất yếu và cấp thiết. Phương thức tự đào tạo trong nhà trường xã hội chủ nghĩa chính là một cách đi có tính khoa học và thực tiễn trên con đường tạo ra một nguồn nhân lực có khả năng chủ động, tích cực, sáng tạo, nhằm đáp ứng mục tiêu Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Từ đó đem lại lợi ích cho dân tộc, cho nhân dân trong công cuộc đổi mới và trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

 

          Đảng ta đã chỉ ra định hướng phát triển giáo dục hiện nay là: Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học. Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh, sinh viên [1, 207]. Giáo dục năng lực tự đào tạo của người học chính là nhằm thực hiện yêu cầu trên.

 

          2. Những yếu tố sau đây có thể được xem là những phẩm chất cấu thành năng lực tự đào tạo của người học (học sinh, sinh viên và các thành phần học viên khác):

 

        2.1. Tiếp nhận được trọn vẹn, có chiều sâu những tri thức khoa học đã có, đang có và tri thức dự báo của ngành học, tương ứng với sự phát triển như vũ bão của khoa học hiện đại (tuỳ theo yêu cầu của cấp học và định mức chuyên môn). Những tri thức khoa học này là nền tảng của nhận thức khoa học, công cụ, tư liệu của sự biến đổi thành tri thức khoa học mới; người học có thể nhào nặn lại, chuyển hoá chúng thành cái của mình, cho mình. Ở đây, tri thức khoa học được xem là tiêu chí đầu tiên và cơ bản để đánh giá ý thức tự đào tạo của người học, đánh giá hoạt động giáo dục tri thức, tạo tiền đề quy định ý thức lao động nghề nghiệp sau này của người học. Như C.Mác đã xác định, tri thức là phương thức theo đó ý thức tồn tại và theo đó một cái gì đó nảy sinh ra đối với ý thức. Cho nên, một cái gì đó nảy sinh ra đối với ý thức chừng nào ý thức biết cái đó [2, 204]. Việc tự trang bị tri thức khoa học gồm tiếp nhận, xử lý, kiểm nghiệm, dung nạp các loại tri thức cơ bản, tư liệu, ứng dụng, công nghệ thông tin, kỹ thuật, chuyên ngành, liên ngành, nghề nghiệp; trong đó có sự kết hợp hợp lý giữa tri thức khoa học cổ truyền và hiện đại, dân tộc và quốc tế, thông dụng và cao cấp, sáng tạo cá nhân và sáng tạo tập thể. Quá trình tự làm giàu trí tuệ trên cần được thực hiện thường xuyên, liên tục, hệ thống, đa dạng theo một định hướng vừa có tính cấp thiết, vừa có tính chiến lược.

 

          2.2. Vốn liếng về thực tiễn là cơ sở, động lực, chất liệu, nội dung, tiêu chuẩn chân lý và mục tiêu của toàn bộ quá trình tự đào tạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông [3, 496]. Đây cũng là bước chuẩn bị cần thiết để người học sau này hành nghề, hoạt động xã hội phù hợp với yêu cầu phát triển. §ương nhiên, người học có thể nắm bắt thực tiễn một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, cũng như mỗi lứa tuổi tiểu học cũng có thể nhìn thấy thực tiễnhọc theo thực tiễn. Trong bối cảnh toàn cầu hoá mọi hoạt động tự đào tạo, bồi đắp khả năng tự điều chỉnh cá nhân trong quan hệ kinh tế, văn hoá, mọi quan hệ sống nói chung (học tập, nghiên cứu khoa học, tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, sinh hoạt cộng đồng) nhằm phù hợp với yêu cầu của phát triển con người và xã hội. Có thể xem tự ý thức là bộ não và huyết mạch của tất cả các hoạt động tự đào tạo của người học.

 

          2.3. Nhân cách mới là nhân cách của con người xã hội chủ nghĩa. Phẩm chất của nhân cách này có nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với tinh thần nhân văn: tất cả vì con người. Nhân cách mới vừa là nội dung đào tạo và tự đào tạo, vừa là mục tiêu chủ yếu, cơ bản của toàn bộ hoạt động giáo dục hiện nay. Quá trình tự đào tạo cần xem đó là động lực, định hướng, đem lại giá trị đích thực cho người học - cá nhân và xã hội nói chung. Đây cũng là điểm tựa và thước đo để tự đào tạo không chạy theo mục tiêu, mục đích sống của chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, độc tôn lợi ích riêng. Nhân tố nhân cách mới trên đây chính là nhằm đáp ứng yêu cầu giáo dục của nước ta hiện nay: Coi trọng bồi dưỡng cho học sinh, sinh viên khát vọng mãnh liệt xây dựng đất nước giàu mạnh, gắn liền lập nghiệp bản thân với tương lai của cộng đồng, của dân tộc, trau dồi cho học sinh, sinh viên bản lĩnh, phẩm chất và lối sống của thế hệ trẻ Việt Nam hiện đại [1, 207].

 

          3. Về thực chất, tự đào tạo là mối quan hệ giáo dục giữa nhà trường, bộ máy quản lý giáo dục và đào tạo với xã hội người học - người được đào tạo, người tự đào tạo. Trong quan hệ trên, nhà trường, bộ máy vĩ mô và cộng đồng xã hội (bao gồm cả gia đình, tổ chức hội, cơ quan hành chính, công ty) là những nhân tố, điều kiện, tiền đề khách quan, đóng vai trò cơ sở, môi trường, hướng dẫn và định hướng, cùng với những hiệu quả, giá trị được thụ hưởng, tiếp nhận từ sản phẩm tự đào tạo (nhân lực tri thức).

 

         Việc giáo dục, giảng dạy ở nhà trường được xem là nhân tố khách quan trọng yếu nhất để người học tự đào tạo có hiệu quả tối ưu. Nội dung, phương pháp giảng dạy, giáo dục, tổ chức, quản lý, thiết chế của toàn bộ hệ thống nhà trường cần hướng vào những nguyên lý, nguyên tắc của nhận thức khoa học, giáo dục mang tính đổi mới của sự nghiệp cách mạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đối với giáo viên, yêu cầu giảng dạy theo hướng tự đào tạo của học sinh, sinh viên, học viên - người học, tập trung ở những điểm chủ yếu: 1. Làm chủ được những tri thức khoa học, phương pháp giảng dạy hiện đại, tiến bộ tương ứng với khả năng tiếp nhận của người học; 2. Từ những tri thức khoa học cơ bản, chủ yếu và nhận thức cuộc sống thực tiễn, người dạy hướng dẫn, gợi mở, khuyến khích, phát huy, định hướng cho người học tự xác định những tri thức mới, nhận thức mới, hoạt động mới mang tính tự giác, tự sáng tạo, tự khẳng định và tự hoàn thiện chúng; 3. Nội dung giảng dạy và phương pháp nhận thức luôn đặt trong tam giác quan hệ: khoa học, giáo dục - hiện thực, thực tiễn - năng lực tiếp nhận, đặc điểm tự ý thức, nhận thức, hoạt động nhiều mặt của người học; 4. Chú trọng truy cập, chuyển tải, phân tích, tổng hợp, khái quát những thông tin khoa học mới, những thành tựu tri thức, trí tuệ đang hiện diện, những dự báo khoa học và xã hội; tất cả đều được người học tiếp cận thông qua vai trò của người dạy; 5. Đem lại cho người học một phương pháp tư duy mở, độngsáng tạo - một tư duy biện chứng nhằm tạo cho họ luôn thích ứng, năng động trước sự phát triển của khoa học hiện đại và thực tiễn xã hội (kể cả thực tiễn nghề nghiệp). Đồng thời, người dạy cần tạo ra và thừa nhận các cách học khác nhau của người học, điều đó sẽ giúp người dạy hướng dẫn, định hướng phù hợp với sự nhận thức mang tính đặc thù của đối tượng - người học khác nhau.

 

          Nhà trường, với vị thế tổ chức, quản lý giáo dục cần tạo ra một cơ chế bồi dưỡng, đánh giá, điều kiện vật chất và tinh thần để người học có thể phát huy được năng lực tự đào tạo của mình. Chẳng hạn, có chế độ riêng, khác biệt đối với những học sinh, sinh viên, học viên chậm hiểu, không thông minh hoặc tiếp thu nhanh, có năng khiếu, tài năng trẻ, tuỳ theo năng lực, điều kiện khác biệt  giữa họ.

 

          Ở cấp vĩ mô, cấp điều hành, quản lý và lãnh đạo giáo dục và đào tạo, những thể chế, quy định, quyết định, đường lối, chính sách, luật lệnh, chiến lược và cả những pháp lệnh cụ thể về tuyển sinh, chương trình, sách giáo khoa, tiêu chuẩn tốt nghiệp được đề ra và đòi hỏi thực thi, xét kỹ, đều liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến người học - tự đào tạo. Giá trị của sản phẩm giáo dục, của tự đào tạo nói riêng, không thể không phụ thuộc vào những nhân tố có tính quy định nói trên. Bởi vậy, tìm ra một sách lược, một giải pháp tối ưu, phù hợp với những quy định ấy là điều rất đáng quan tâm. Chẳng hạn, lối thi cử, kiểm tra ở bậc đại học theo tự luận, tự suy luận, đề xuất những luận điểm, kiến giải của cá nhân, chắc chắn đem lại hiệu quả đánh giá hợp lý, đúng đắn. Sự chi phối có tính quyết định của cấp vĩ mô đối với tự đào tạo có ý nghĩa sống còn đối với toàn bộ quá trình giáo dục, tạo ra cả một thế hệ làm nguồn nhân lực tri thức cho xã hội. Đối với ngành giáo dục và đào tạo, Đảng ta đã chỉ rõ: Đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, có chế quản lý để tạo được chuyển biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà, tiếp cận với trình độ giáo dục của khu vực và thế giới; khắc phục cách đổi mới chắp vá, thiếu tầm nhìn tổng thể, thiếu kế hoạch đồng bộ [1, 206].

 

          Trên bình diện xã hội chung, phương thức tự đào tạo mở ra chiều hướng xã hội hóa giáo dục đối với tiềm năng lao động tri thức khi người học bằng nỗ lực cá nhân có thể tiến thân trên con đường hiếu học trong những điều kiện vật chất, sinh hoạt nhất định (còn không ít thiếu thốn, khó khăn) do xã hội tạo ra. Ở đây, sự nhận thức, tâm lý, quan niệm đúng đắn về tự đào tạo là nhân tố quy định đầu tiên đối với trách nhiệm của toàn cộng đồng, xã hội. Nếu tự đào tạo trong hoạt động giáo dục đem lại những giá trị thực tiễn đối với xã hội từ nguồn lao động tri thức do nó cung cấp thì cũng có nghĩa xã hội cần có nghĩa vụ đáp ứng những yêu cầu tạo ra nó. Đầu tư thích đáng về điều kiện vật chất cũng như điều kiện tinh thần, môi trường văn hoá, chính trị, kinh tế, là cơ sở không thể thiếu để người học tự khẳng định năng lực tự chủ, phương tiện học tập, truyền thông dưới sự hướng dẫn, kiểm tra của nhà trường, cơ sở, trung tâm đào tạo giáo dục và nghiệp vụ.

 

          Cách đây hơn nửa thế kỷ, Bác Hồ đã căn dặn giới trí thức: Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân [3, 215]. Như thế, tự đào tạo là một phương thức để học và hành nêu trên.

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006. Người viết nhấn mạnh.

 

[2] C.Mác. Bản thảo kinh tế - triết học 1844, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1962.

[3] Hồ Chí Minh. Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, Tập 8.
(Source: VŨ MINH TÂM - Trường ĐHSP Hà Nội - Bản tin GDTX&TC số 16 - tháng 3/2008 )
Read on >>
  
  
  
  

Read on >>
  
  
  
  
Đc: Tầng 6 Nhà Hành chính Hiệu bộ - Trường đại học Sư phạm Hà Nội
136 Xuân Thủy - Cầu Giấy - HN