Welcome to International Physics Olympiad 2008, Hanoi-Vietnam  
Số lượt truy cập
1331373
    23 Tháng Mười Một 2014 | , Đăng Nhập | SiteMap   Tìm Kiếm
    Bản tin từ xa và tại chức » Tìm hiểu kiến thức
GIẢI NGHĨA TỪ HÁN - VIỆT (Phần tiếp theo)
GIẢI NGHĨA TỪ HÁN - VIỆT (Phần tiếp theo)


Hòa bình:

            Hòa vốn có nghĩa là thuật nấu ăn (gồm có chữ hòa là lúa và khẩu là miệng) mà nghệ thuật nấu ăn là một loại triết học, là cách giải quyết mối mâu thuẫn giữa nước và lửa, giữa mặn, nhạt, chua, cay, đắng... sao cho các mặt mâu thuẫn ấy phối hợp với nhau một cách hợp lý nhất mà không có mâu thuẫn nào bị loại bỏ. Ví như nấu cơm mà để nước át lửa thì cơm nhão, để lửa át nước thì cơm khê. Nấu thức ăn phải làm sao cho cay không loại chua, chát không loại đắng, ngọt không loại mặn... phải để cho các vị ấy phối hợp với nhau một cách lý tưởng nhất, các mặt mâu thuẫn ấy đều tồn tại mà không mất đi một vế nào cả. Còn bình là giữ cho yên ổn, không làm rối loạn. Ví như ta bình giặc Ngô là ta làm cho mất hẳn âm mưu xâm lược của giặc. Vậy hòa bình là tuỳ thời cơ dẹp đi mối mâu thuẫn sống còn và đạt được sự hài hòa giữa các mâu thuẫn khác.

Cô độc:

            Cô là đứa trẻ không có cha hoặc mẹ, có âm Việt hóa cổ là côi. Độc là người đàn ông già không có con. Sách Nhĩ nhã và sách Mạnh tử có câu: “Đàn ông già không có vợ gọi là quan, đàn bà già không có chồng gọi là quả (âm Việt hóa là góa), trẻ con không có cha mẹ gọi là , đàn ông già không con gọi là độc, đấy là bốn loại người khốn cùng trong xã hội.” Tại sao? Vì thời cổ ở Trung Hoa, dân chủ yếu sống bằng nông nghiệp trong các tỉnh điền. Theo chế độ tỉnh điền thì cứ vài năm nhà nước chia ruộng cho dân một lần, mà chỉ chia cho đàn ông trưởng thành, do vậy trẻ con và phụ nữ ở góa thì không có ruộng, đàn ông già không vợ không con thì tuy có ruộng nhưng không có sức lao động, do đó cô độc đồng nghĩa với không có nơi dựa dẫm.

Thao lược:

            Thao là cái túi đựng tên bắn, lược là phương sách dụng binh. Thao lược còn là cách gọi ghép các chữ lục thao tam lược. Lục thao là tên sách do Lã vọng đời Chu soạn, Trang tử hiệu đính gồm có sáu cách đánh trận là văn thao, võ thao, hổ thao, long thao, báo thao và khuyển thao. Tam lược là sách do Hoàng Thạch Công soạn cho Trương Lương đời Hán, gồm có ba lược là ba phép dụng binh. Về sau thao lược được dùng để chỉ người có tài dùng quân.

Phù phiếm:

            Phù là nổi trên mặt nước và đứng tại chỗ. Phiếm là nổi trên mặt nước và trôi đi, trôi lại. Cả từ phù phiếm chỉ sự vật hay tính cách nổi và nông cạn, không có căn nguyên gốc rễ vững vàng.

Hy sinh:

            Tên gọi các con vật được chọn để tế thần linh thời cổ ở Trung Hoa, thường là trâu, bò, dê, lợn, gà... được dùng tế sống hay cắt lấy tiết để tế, lúc này con vật tế được gọi là con hy và con sinh.

Xã đàn:

            Đàn đắp cao để tế thổ thần, cầu cho dân được ở yên. Xưa lập quốc trước nhất phải lập đàn thờ thần xã (thổ thần, chữ gồm bộ kỳ chỉ sự thờ cúng và chữ thổ chỉ thần đất) và đàn thờ thần tắc (tắc là Hậu Tắc, tên của thần nông) nhằm cầu cho dân được lạc nghiệp vì thời cổ dân sống chủ yếu nhờ nông nghiệp. Từ đó người ta dùng xã tắc để chỉ quốc gia, đất nước.

Tơ hào:

            Đáng lẽ phải gọi là ti hào, vì là âm cổ của ti, có nghĩa là sợi tơ, một loại sợi rất nhỏ. Còn hào là sợi lông nhỏ chạy ngang thành hàng trong cái lông chim vào mùa thu, mùa chim mới mọc lông. Tơ hào đều chỉ những vật nhỏ bé nên có nghĩa như chút xíu, mảy may.

Tổ chức:

            Tổ là xếp các đầu dây dọc lại với nhau. Chức là dùng các sợi dây ngang đan kết với các sợi dây dọc lại thành một mạng lưới thống nhất. Tổ chức có nghĩa là sự kết hợp của những tế bào trong một vật thể, còn được dùng như một động từ.

Ảnh hưởng:

            Ảnh là cái bóng của một sự vật. Hưởng là tiếng vang của một vật thể khi bị gõ, bị cọ xát trong không khí, từ đó ảnh hưởng được dùng để chỉ chung tác động của một sự vật hay một sự việc tới một sự vật hay sự việc khác.

Táo quân:

            Táo quân gọi tắt nhóm từ đông trù tư mệnh táo chủ thần quân, tục gọi là vua bếp. Thường đặt ở phía đông của nhà, là một trong ngữ tự gia đường tôn thần (năm vị thần được thờ trong nhà). Một là ở cổng nhà, hai là ở lối đi từ cổng vào nhà, ba là cửa chính vào nhà, bốn là phòng chính của nhà nơi đặt bàn thờ, năm là bếp (táo). Táo quân có nhiệm vụ hàng năm vào ngày 23 tháng chạp lên thiên đình báo cáo việc trong năm ở dưới trần.

Tinh vi:

            Tinh là gạo được giã kỹ lấy chất lõi ở trong (chữ tinh có bộ mễ chỉ gạo) xưa được quan niệm là cái quý nhất của hạt gạo. Trong sách Luận ngữ có câu nói của Khổng tử: “Dư thực bất yếm tinh” (Ta ăn gạo giã kỹ không bao giờ chán). Còn vi là vật hay sợi rất nhỏ nhoi. Tinh thì tốt còn vi thì quá tủn mủn và thường là xấu. Ví như văn thơ đời Tấn thường bỏ hàng mấy trang sách để mô tả làn da má của phụ nữ (mỏng và mịn đến mức gió thổi mạnh thì rách) hay cặp lông mi của người đẹp như thể là vi. Cũng vì thế mà ở tiếng Hán cổ vi còn có nghĩa là hay phi (không có gì).

Hương cống:

            Ta gọi là ông cống, chỉ người học chữ Nho ngày xưa đi thi hương đỗ cả bốn trường (bốn bài thi), đời Nguyễn gọi là cử nhân. Thi hương có bốn kỳ, nếu chỉ đỗ ba kỳ thì gọi là tam trường hay ông tú, nếu lần thi sau cũng chỉ đỗ ba kỳ thì gọi là tú kép, lần sau nữa cũng chỉ đỗ ba kỳ thì gọi là tú mền, lần sau nữa cũng chỉ đỗ ba kỳ thì gọi là tú đụp.

Tang thương:

            Tang là cây dâu, thương là màu xanh của biển. Tang thương gọi tắt từ câu “thương hải biến vu tang điền” (biển xanh biến thành ruộng dâu). Ý chỉ cảnh biến đổi của cuộc sống từ đó cũng có ý chỉ sự biến đổi của cuộc đời con người. Tiếng Việt chỉ dùng tang thương để chỉ sự thay đổi xấu đi.

Tố nữ:

            Tố là sợi còn chưa nhuộm, còn giữ nguyên màu trắng. Nữ là con gái. Tố nữ có nghĩa là người con gái còn trình bạch, còn trong trắng, tức là người con gái chưa có chồng. Sách giáo khoa giải thích tố nữ là người con gái đẹp là không đúng.

Môn đăng hậu đối:

            Đây là cách nói sai. Đúng ra phải là môn đang (hoặc đương) hộ đối. Môn hộ đều có nghĩa là cái cổng hay cửa nhà. Ở phương Tây cũng như phương Đông xưa, cổng (và cả xe ngựa) đều có gắn gia huy (dấu hiệu riêng của gia tộc) thể hiện vị trí, địa vị của một dòng họ. Đươngđối là xứng đôi, sánh đôi với nhau trong quan hệ thông gia.

Hàn huyên:

            Hàn là lạnh, huyên là ấm. Xưa trong gia đình trước khi đi ngủ con cái phải hỏi thăm xem cha mẹ có lạnh không. Khi ngủ dậy lại phải hỏi thăm cha mẹ xem đêm ngủ có được ấm không. Do đó, hàn huyên là lời hỏi thăm nhau giữa những người thân, nghĩa cũng như hàn ôn.

Đao phủ:

            Đao là dao, phủ là búa. Hai dụng cụ dùng để chặt đầu những người có tội xưa. Người có tội phải đặt đầu mình lên một cái thớt bằng gốc cây và bị dao hay búa chặt đầu rời khỏi mình. Người thi hành công việc này vì thế cũng được gọi là đao phủ.

Bao biện:

            Bao là ôm lấy một mình. Biện là làm hay giải quyết công việc. Bao biện là không hỏi ý kiến mọi người hoặc không phải công việc của mình cứ ôm lấy mà làm. Nhiều người hiện nay hiểu bao biện là bao che, biện hộ cho người khác là sai.

Xuân huyên:

            Xuân là loại cây cao to lá màu hồng, xum xuê có hương thơm, ăn được, xưa thường được dùng để tượng trưng cho người cha trong gia đình. Huyên là loại cây nhỏ giống như cây xương bồ nhưng hẹp và mềm hơn, hoa giống hoa bách hợp, còn có tên là “vong ưu thảo” (cây cỏ làm quên mọi sự lo buồn), thường trồng ở phía buồng người mẹ, có ý cho mẹ khỏi lo buồn. Vì vậy xuân huyên là chỉ chung cha mẹ.

Tần tảo:

            Tần tảo đều là hai loại rau nước, kém ngon và rẻ tiền, dễ kiếm. Xưa phụ nữ nhà nghèo, quen kham khổ thường ăn các rau này, vì thế người ta dùng hai chữ tần tảo để chỉ người vợ hiền, chịu thương, chịu khó ăn thứ không ngon để tằn tiện nuôi chồng, nuôi con.

Trừ tịch:

            Trừ có nhiều nghĩa, trong đó có nghĩa là năm cũ chuyển sang năm mới (theo Khang Hy tự điển). Tịch là khoảng thời gian từ giờ tuất (7 đến 9 giờ tối) cho đến sáng hôm sau. Vậy trừ tịch chỉ đêm 30 tháng chạp âm lịch.

Giao thừa:

            Giao là chuyển một vật, một người, một thời gian nào đó cho một khách thể. Tha là nhận một vật, một người, một thời gian nào đó của chủ thể chuyển giao. Ở đây giao tha có nghĩa là lúc năm cũ chuyển giao sang năm mới.

(Source: Nguyễn Ngọc San - Trường ĐHSP Hà Nội - Bản tin GDTX&TC số 20 tháng 3/2009 )
Read on >>
  
  
  
  

Read on >>
  
  
  
  
  
Đc: Tầng 6 Nhà Hành chính Hiệu bộ - Trường đại học Sư phạm Hà Nội
136 Xuân Thủy - Cầu Giấy - HN