CÁC GIAI ĐOẠN XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
1. Giai đoạn từ 1994 - 1996: Trường chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho hoạt động đào tạo, bao gồm: nghiên cứu cơ sở lý luận của phương thức đào tạo từ xa (ĐTTX), chuẩn bị chương trình, tổ chức viết giáo trình học liệu, tìm hiểu nhu cầu thực tế và xây dựng các cơ sở vật chất.
- Ngày 13/10/1996 lớp đại học từ xa đầu tiên (thuộc ngành GDTH) được khai giảng tại Ninh Bình với gần 200 học viên.
- Sau đó lần lượt các lớp ĐTTX ngành GDTH được khai giảng tại các địa phương Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh, Thanh Hoá với con số hơn 800 học viên.
Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu của việc phát triển ĐTTX, lãnh đạo nhà trường (trực tiếp đồng chí hiệu trưởng làm giám đốc Trung tâm GDTX) mới triển khai thử nghiệm. Vừa làm vừa nắm bắt nhu cầu xã hội và tiếp tục chuẩn bị chín muồi các điều kiện cho việc phát triển ở quy mô lớn hơn trong giai đoạn tiếp theo.
2. Giai đoạn từ 1996 - 2000: Đây là giai đoạn triển khai dự án Việt - Bỉ về ĐTTX cho 4 tỉnh: Gia Lai, Kon Tum, Cà Mau, Bạc Liêu với 1500 giáo viên tiểu học được nâng lên trình độ đại học. Đồng thời nhân rộng mô hình đào tạo từ xa nâng chuẩn trình độ cho giáo viên tiểu học ở các tỉnh Quảng Ninh, Thanh Hoá, Hoà Bình, Sơn La, Long An, Kiên Giang, Cần Thơ, Tây Ninh.
Ở giai đoạn này, một mặt tận dụng lợi thế của dự án Việt - Bỉ, cùng với nỗ lực của nhà trường, hệ ĐTTX dần dần chuẩn bị được các điều kiện toàn diện để có thể nhân rộng hệ này ở quy mô lớn hơn. Kết quả đạt được của giai đoạn này bao gồm:
- Viết được bộ giáo trình hoàn chỉnh ĐTTX cho ngành GDTH
- Xây dựng được phòng studio hiện đại phục vụ cho việc thu và phát sóng ĐTTX trực tiếp trên sóng của Đài Truyền hình Việt Nam. Nhờ đó Trường đã sản xuất được 82 bộ băng hình, phát sóng thường xuyên chương trình GDTH trên sóng đài truyền hình Việt Nam.
- Bước đầu xây dựng được các cơ sở liên kết đào tạo từ xa trong cả nước đặc biệt là ở các địa phương triển khai dự án Việt - Bỉ.
3. Giai đoạn 2001 - 2004: Đây là thời kỳ đáp ứng một nhu cầu có tính bùng phát ở các địa phương trong cả nước về đào tạo, bồi dưỡng giáo viên. Với các cơ sở vật chất đã được chuẩn bị kỹ lưỡng, giai đoạn này hệ ĐTTX của trường phát triển trên cả 3 phương diện: Số lượng học viên, ngành và địa bàn đào tạo. Từ chỗ chỉ có gần 7.000 học viên trong vòng 3 - 4 năm đã tăng lên hơn hai chục ngàn học viên, từ chỗ chỉ có 1 ngành GDTH đã mở rộng ra 12 ngành đào tạo.
Năm 2003 - 2004, 100% học viên của 12 ngành ĐTTX đã có đủ giáo trình hướng dẫn tự học. Điều này cũng đánh dấu một sự kiện có ý nghĩa quan trọng là chính việc biên soạn giáo trình ĐTTX đã thúc đẩy biên soạn tài liệu hệ chính quy, có những giáo trình ĐTTX được sử dụng cho các hệ đào tạo khác. Những khoa trước đây còn thiếu giáo trình thì nay được bổ sung đầy đủ, nhất là những ngành mới đào tạo sẽ có cơ hội phát triển tài liệu học tập một cách bài bản. Ngoài tài liệu in, các học liệu bổ trợ như băng hình, đĩa CD tiếp tục được nhân rộng.
- Bắt đầu từ năm 2004, tất cả các thông tin ĐTTX đã được đưa lên mạng qua trang web của trường, các học viên ở địa phương đều có thể truy cập được.
- Việc thành lập NXB Đại học Sư phạm đã đóng góp tích cực và có hiệu quả cho công tác biên soạn, in ấn giáo trình kịp thời phục vụ cho học viên hệ từ xa không chỉ của trường ĐHSP Hà Nội mà còn phục vụ cho các trường khác như ĐH Huế.
- Quy chế mới về ĐTTX của Bộ GD&ĐT được ban hành ngày 8/8/2003 và đề án phát triển GDTX đến năm 2010 là những định hướng và hành lang pháp lý quan trọng giúp nhà trường xác định được hướng phát triển lâu dài và bền vững cho hệ ĐTTX.
- Đội ngũ giáo viên ở các trường phổ thông trong cả nước đang tích cực theo học hệ từ xa không chỉ ở thành phố, đồng bằng mà cả ở vùng núi cao, vùng hải đảo xa xôi... Đó là hình ảnh của một xã hội học tập thu nhỏ đã và đang hình thành ở các địa phương.
4. Giai đoạn 2005 đến nay: Đây là giai đoạn chín muồi cho sự phát triển hệ ĐTTX cả bề rộng lẫn chiều sâu. Hệ ĐTTX của trường tiếp tục phát triển trên các phương diện: Mở rộng quy mô tuyển sinh, phát triển ngành đào tạo và mở rộng địa bàn đào tạo.
- Năm 2004: Tuyển sinh được khoảng 2 vạn học viên, với 12 chuyên ngành đào tạo ở 29 tỉnh, thành phố trong cả nước.
- Năm 2005: Tuyển sinh được hơn 2 vạn học viên, với 18 chuyên ngành đào tạo ở 31 tỉnh, thành phố trong cả nước.
- Năm 2006: Tuyển sinh được hơn 3 vạn học viên, với 19 chuyên ngành đào tạo ở 33 tỉnh, thành phố trong cả nước.
- Năm 2007 và cho đến tháng 3/2008 tuyển sinh được 41.977 học viên với 20 chuyên ngành đào tạo ở 36 tỉnh, thành phố trong cả nước.